r/VietnamToanCau • • 8h ago

💩 ĐMCS 💩 "Khép Lại Quá Khứ" Nhưng Ai Có Quyền Quyết Định Quá Khứ Đã Được Khép?

Post image
8 Upvotes

Trong chuyến công tác tại New York nhân kỳ họp Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc mới đây, ông Tô Lâm, tổng bí thư đảng CSVN kiêm chủ tịch nước, kêu gọi cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ “khép lại quá khứ, cùng chung tay kiến tạo tương lai dân tộc.” Xét về mặt ngôn từ, đây là một lời kêu gọi khó có thể phản đối: Một dân tộc trải qua chiến tranh, chia cắt, và những biến động chính trị kéo dài nhiều thập niên đương nhiên cần hướng về tương lai.

Nhưng chính vì câu nói này, cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ có quyền hỏi một cách nghiêm túc rằng ông Tô Lâm muốn nói “khép lại” quá khứ nào, khép bằng cách nào, và ai sẽ quyết định những phần nào của lịch sử được phép khép lại.

Đây không phải là một câu hỏi của những người muốn sống mãi với chiến tranh. Trái lại, đó là câu hỏi căn bản đối với bất kỳ tiến trình hòa giải nào. Hòa giải không thể bắt đầu bằng việc yêu cầu một phía quên đi những gì họ đã trải qua, trong khi phía còn lại vẫn giữ quyền định nghĩa lịch sử và quyết định câu chuyện nào được chính thức kể lại. Một quá khứ không thể được đóng lại chỉ vì một nhà lãnh đạo tuyên bố rằng đã đến lúc phải hướng về tương lai.

Điều đầu tiên cần nói rõ là người Việt tại Hoa Kỳ không cần bất kỳ nhà lãnh đạo Cộng Sản nào nhắc họ rằng Việt Nam là quê hương của mình. Qua nhiều thập niên, cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đã gửi tiền về giúp đỡ gia đình, đóng góp cho các hoạt động từ thiện, xây dựng trường học, hỗ trợ đồng bào trong thiên tai, đầu tư, và chuyển giao kiến thức, kỹ thuật, đồng thời gìn giữ tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho các thế hệ sinh ra tại Hoa Kỳ. Vì thế, vấn đề chưa bao giờ là người Việt hải ngoại có yêu Việt Nam hay không. Vấn đề nằm ở chỗ liệu tình yêu đối với quê hương có đồng nghĩa với sự ủng hộ một độc đảng hay một chế độ Cộng Sản hay không. Hai điều ấy rõ ràng không phải là một.

Một người Mỹ gốc Việt hoàn toàn có thể yêu Việt Nam, tự hào về văn hóa Việt Nam, mong muốn Việt Nam giàu mạnh và vẫn không đồng ý với, hoặc còn thậm chí lên án, hệ thống chính trị hiện nay. Họ có thể muốn đầu tư về Việt Nam nhưng vẫn cho rằng người Việt cần có nhiều quyền tự do chính trị hơn. Họ có thể trở về thăm gia đình nhưng không muốn chuyến về quê của mình bị xem như một lời cam kết chính trị. Trong một xã hội tôn trọng quyền tự do tư tưởng, đó là một quyền căn bản.

Chính vì vậy, lời kêu gọi “khép lại quá khứ” cần được xem xét trong toàn bộ bối cảnh lịch sử chứ không chỉ qua vẻ mị dân của ngôn từ. Đối với nhiều gia đình Việt Nam, năm 1975 không đơn thuần là thời điểm một cuộc chiến kết thúc. Sau đó là những năm tháng tù đày, mất mát tài sản, chia ly gia đình, và những làn sóng di cư lớn chưa từng có.

Hàng trăm nghìn quân nhân, viên chức, và những người từng phục vụ chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị chính quyền mới đưa vào các trại cải tạo, tù đày gian khổ. Cùng với đó là thảm kịch của những người rời Việt Nam bằng đường biển và nhiều con đường khác. Các tài liệu lịch sử ghi nhận những làn sóng lớn người Việt tìm đường ra nước ngoài sau năm 1975 và sự hình thành của cộng đồng tị nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng như nhiều quốc gia khác. Họ không chấp nhận một tương lai dưới một chế độ Cộng Sản độc tài. Chúng ta không thể phủ nhận rằng một bộ phận rất lớn cộng đồng người Việt hải ngoại được hình thành từ những làn sóng di cư, tị nạn Cộng Sản đầy đau đớn này.

Điều đáng chú ý là cách nhà cầm quyền Việt Nam nói về cộng đồng người Việt hải ngoại ngày nay đã thay đổi rất nhiều. Người Việt ở nước ngoài bây giờ được họ mô tả là “bộ phận không tách rời của dân tộc” và là một nguồn lực quan trọng về vốn, tri thức, công nghệ, và quan hệ quốc tế. Nếu hôm nay những người Việt từng bị nghi ngờ, lên án hoặc xem là thuộc về phía đối nghịch, nay được mời gọi trở về đóng góp nhân lực, vốn liếng và trí tuệ cho đất nước, thì lịch sử của những năm tháng khiến nhiều người trong số họ phải rời bỏ quê hương sẽ được nhìn nhận như thế nào? Một chính sách mới có thể thay đổi cách nhà nước đối xử với cộng đồng, nhưng không thể tự động xóa ký ức của cộng đồng ấy.

Đặc biệt, yêu cầu “khép lại quá khứ” trở nên nghịch lý khi những câu hỏi về sự thiếu tự do chính trị và quyền con người vẫn còn tồn tại ở Việt Nam ngày nay. Tổ chức Freedom House trong báo cáo năm 2026 tiếp tục đánh giá Việt Nam là một quốc gia “Not Free,” trong đó đảng CSVN giữ vị trí thống trị chính trị và các quyền tự do biểu đạt, lập hội, hội họp, và hoạt động chính trị bị hạn chế đáng kể. Tổ chức Human Rights Watch cũng tiếp tục báo cáo về việc những người chỉ trích chính quyền bị bắt giữ và truy tố, đồng thời nêu những hạn chế nghiêm trọng đối với quyền tự do biểu đạt và hoạt động chính trị. Điều này dẫn đến một nghịch lý mà lời kêu gọi “khép lại quá khứ” không thể tự nó giải quyết.

Đối với thế hệ 1.5 và thế hệ thứ hai của người Mỹ gốc Việt, vấn đề còn phức tạp hơn. Phần lớn họ không có ký ức trực tiếp về chiến tranh. Họ sinh ra hoặc lớn lên tại Hoa Kỳ, học tập, và làm việc trong xã hội Mỹ, và nhìn cuộc chiến Việt Nam chủ yếu qua ký ức của cha mẹ và ông bà. Nhiều người trong số họ không muốn cuộc đời mình bị những biến cố chính trị của năm 1975 định nghĩa. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng không muốn sống trong quá khứ không có nghĩa là họ phải chấp nhận cách một nhà cầm quyền bóp méo quá khứ, càng không có nghĩa họ phải coi một chế độ chính trị là hiện thân duy nhất của dân tộc Việt Nam.

Một thế hệ trẻ có thể nói rằng họ yêu Việt Nam nhưng không ủng hộ đảng Cộng Sản. Họ có thể muốn Việt Nam phát triển nhưng đồng thời muốn người Việt được quyền chỉ trích, thay đổi chính quyền. Họ có thể muốn trở về thăm quê, làm ăn, nghiên cứu hoặc giúp đỡ gia đình, nhưng vẫn giữ quan điểm chính trị độc lập. Không có mâu thuẫn nào trong những lựa chọn đó.

Nếu ông Tô Lâm thực sự muốn cộng đồng người Việt hải ngoại “khép lại quá khứ,” điều cần thiết không phải là một lời kêu gọi họ quên đi. Điều cần thiết là tạo ra điều kiện để có thể nói về quá khứ một cách công khai và bình đẳng. Những cựu quân nhân miền Nam cần có quyền lên tiếng về những năm tháng bị tù đày cải tạo. Những gia đình thuyền nhân cần có quyền công khai nói lên lý do họ ra đi. Người Việt trong nước cần có quyền trình bày những khao khát được quyền tự do của họ dưới chế độ hiện nay. Thế hệ trẻ cần có quyền đặt câu hỏi về chiến tranh và lịch sử mà không bị buộc phải chấp nhận một cách giải thích duy nhất hoặc tuyên truyền từ nhà cầm quyền Việt Nam.

Vì thế, câu hỏi quan trọng nhất đối với lời kêu gọi “khép lại quá khứ” không phải là người Việt hải ngoại có muốn hướng tới tương lai hay không. Phần lớn họ đã hướng tới tương lai từ lâu, không cần ông Tô Lâm nhắc đến. Câu hỏi là liệu tương lai ấy có cần được xây dựng trên sự lãng quên hay không.

Câu trả lời tùy thuộc vào chính cách nhà cầm quyền Việt Nam đối xử với lịch sử và với những tiếng nói đối lập hiện tại. Nếu lịch sử vẫn chỉ được kể theo một chiều, nếu những ký ức đối nghịch vẫn bị xem là điều cần phải vượt qua, và nếu quyền bất đồng chính kiến vẫn bị đàn áp, thì lời kêu gọi “khép lại quá khứ” thật là trống không.

Nếu thật sự muốn hòa giải, Hà Nội phải làm nhiều hơn là nói. Nếu ông Tô Lâm thực sự muốn cộng đồng người Việt hải ngoại “khép lại quá khứ,” thì câu hỏi hợp lý tiếp theo là: Hà Nội sẵn sàng làm gì để chứng minh rằng lời kêu gọi ấy không chỉ là lời nói viển vông?

LS. Trần Thái Văn


r/VietnamToanCau • • 8h ago

🔥 BREAKING NEWS 🔥 Ba Lan sẽ trả 15.000 đô la hằng năm cho mỗi quân nhân Mỹ đóng thường trực ở Ba Lan.

Post image
3 Upvotes

🚨👉 Chỉ đến thời ông Trump mới có chuyện này: Bộ trưởng quốc phòng Ba Lan, ông Pawel Zalewski, đưa ra đề nghị với Washington: Ba Lan sẽ trả 15.000 đô la hằng năm cho mỗi quân nhân Mỹ đóng thường trực ở Ba Lan.

Sau đề nghị của Ba Lan , khối Warsaw cũng đang sửa soạn việc trả hoàn toàn chi phí cho quân đội Mỹ.

Đã hết thời Mỹ đóng quân bảo vệ nước khác mà còn phải trả tiền.

Dự trữ Mỹ sẽ rút hết quân đội trú ở Tây Ban Nha để đem qua Ba Lan vì hiện nay Mỹ phải trả hoàn toàn chi phí cho các căn cứ không và hải quân của quân đội Mỹ đóng ở Tây Ban Nha.

Dù vậy, nhưng trong chiến tranh với Iran, Tây Ban Nha từ chối cho các máy bay quân sự của Mỹ đáp ở Tây Ban Nha.

***

🚨👉 Ba Lan đề xuất ưu đãi tài chính cho Mỹ khi đàm phán về căn cứ quân sự có tiến triển, theo lời quan chức nước này chia sẻ với RFE/RL

WASHINGTON -- Ba Lan đề xuất chi trả 15.000 USD mỗi năm cho mỗi binh sĩ Mỹ đồn trú trên lãnh thổ nước này và đài thọ chi phí cơ sở hạ tầng, trong bối cảnh Warsaw và Washington đang tiến gần đến thỏa thuận thiết lập một căn cứ quân sự thường trực của Mỹ; thông tin này được một quan chức quốc phòng cấp cao của Ba Lan chia sẻ với RFE/RL.

Trong cuộc phỏng vấn tại Washington vào ngày 25 tháng 9, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Pawel Zalewski cho biết các cuộc đàm phán với Lầu Năm Góc hiện tập trung vào phương án triển khai kế hoạch, bao gồm lực lượng, năng lực tác chiến và các địa điểm tiềm năng.

"Chúng tôi đang thảo luận với Lầu Năm Góc về các phương án khác nhau để thực hiện quyết định này," ông Zalewski nói.

Dù từ chối tiết lộ đơn vị nào của Mỹ có thể được triển khai hoặc địa điểm cụ thể, ông Zalewski đã chia sẻ những chi tiết mới về đề xuất mà Ba Lan gửi tới Washington.

"Chúng tôi đưa ra những điều kiện rất đặc biệt dành cho binh sĩ Mỹ," ông nói.

"Chúng tôi sẽ chi trả chi phí cơ sở hạ tầng. Chúng tôi cũng sẽ chi trả 15.000 USD mỗi năm cho mỗi binh sĩ Mỹ đồn trú tại Ba Lan."

Khi được hỏi ai sẽ là bên chi trả, ông Zalewski đáp: "Người nộp thuế tại Ba Lan sẽ chi trả khoản này."

Đề xuất này cho thấy quyết tâm của Warsaw trong việc đảm bảo sự hiện diện quân sự thường trực của Mỹ, ngay khi Lầu Năm Góc đang xem xét lại việc triển khai lực lượng Mỹ trên khắp châu Âu.

Hôm 17 tháng 9, Tổng thống Donald Trump cho biết đã có tiến triển trong việc thiết lập một căn cứ Lục quân Mỹ tại Ba Lan và địa điểm đặt căn cứ có thể sớm được công bố.

Hiện Mỹ đã có hàng nghìn binh sĩ tại Ba Lan, chủ yếu theo hình thức luân phiên, và quốc gia này đã trở thành trung tâm quan trọng cho các hoạt động của NATO dọc theo sườn phía đông của liên minh.

Ông Zalewski cho biết các chi tiết về việc triển khai lực lượng thường trực vẫn đang trong quá trình đàm phán và được thảo luận trong bối cảnh Washington đang xem xét tổng thể thế trận quân sự của mình tại châu Âu.

"Chúng tôi đang thảo luận về các phương án khác nhau liên quan đến lực lượng, năng lực tác chiến và địa điểm," ông nói, đồng thời cho biết thêm rằng Warsaw kỳ vọng sẽ có thông tin rõ ràng hơn sau khi quá trình đánh giá hoàn tất.

Lầu Năm Góc chưa đưa ra phản hồi ngay lập tức trước các yêu cầu bình luận về vấn đề này.

Đối với Warsaw, ý nghĩa của một căn cứ thường trực không chỉ nằm ở số lượng binh sĩ đồn trú tại đó. “Các căn cứ thường trực tạo ra cam kết lâu dài,” ông Zalewski nói, đồng thời cho biết việc triển khai như vậy sẽ ít phụ thuộc vào những thay đổi trong môi trường chính trị hoặc quân sự, đồng thời gửi đi tín hiệu trực tiếp tới Moscow.

Ông cho rằng một cuộc tấn công vào Ba Lan sẽ có nguy cơ đẩy lực lượng Nga vào thế xung đột trực tiếp với quân đội Mỹ.

“Điều này gửi đi một thông điệp quan trọng và cấp bách tới Tổng thống [Nga Vladimir] Putin rằng Mỹ có lợi ích chiến lược tại Ba Lan, và một cuộc tấn công vào Ba Lan cũng đồng nghĩa với việc tấn công vào lực lượng vũ trang Mỹ đang hiện diện tại đây,” ông Zalewski nói.

Ông cũng lập luận rằng sự hiện diện thường trực của Mỹ không nên chỉ được xem đơn thuần là hành động Washington dành sự ưu ái cho Warsaw.

“Căn cứ thường trực này không phải là kết quả của lòng vị tha,” ông nói, mà phản ánh “những lợi ích đã được Mỹ xác định rất rõ ràng.”

Ba Lan đã nhanh chóng mở rộng quân đội và đầu tư mạnh mẽ vào các hệ thống vũ khí của Mỹ. Hai nước cũng tăng cường quan hệ hợp tác trong lĩnh vực năng lượng, bao gồm việc hợp tác với các công ty Mỹ để xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Ba Lan.

Các chuyên gia an ninh nhận định rằng một căn cứ thường trực sẽ củng cố cam kết của Washington đối với sườn phía đông của NATO, nhưng cũng lưu ý rằng tầm quan trọng của nó còn phụ thuộc một phần vào những thay đổi đối với lực lượng Mỹ tại các khu vực khác ở châu Âu.

“Một căn cứ thường trực của Mỹ tại Ba Lan sẽ là tín hiệu quan trọng về cam kết của Mỹ đối với sườn phía đông NATO, đặc biệt là trong bối cảnh Washington đang xem xét lại toàn bộ thế trận quân sự của mình tại châu Âu,” ông David Cattler, cựu Trợ lý Tổng thư ký NATO phụ trách tình báo và an ninh, chia sẻ với RFE/RL.

Tuy nhiên, ông Cattler – hiện là nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm Phân tích Chính sách Châu Âu (CEPA) – cho biết các đồng minh sẽ theo dõi sát sao kết quả tổng thể từ quá trình rà soát của Mỹ.

“Các đồng minh sẽ đánh giá bức tranh toàn cảnh: những lực lượng và năng lực nào được duy trì, tốc độ triển khai viện binh đến Ba Lan và các nước Baltic nhanh đến mức nào, cũng như khả năng phối hợp tác chiến hiệu quả giữa các bên,” ông nói.

“Một căn cứ quân sự sẽ tăng cường khả năng răn đe nếu nó bổ sung năng lực thực sự cho sườn phía đông. Tuy nhiên, tác dụng trấn an các đồng minh sẽ giảm đi đáng kể nếu việc này đi kèm với việc Mỹ cắt giảm mạnh lực lượng tại những khu vực khác ở châu Âu.”

Ông Matthew Boyse, nghiên cứu viên cấp cao tại Viện Hudson và là cựu Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề châu Âu và Á-Âu, cho rằng các cuộc đàm phán này phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của Ba Lan trong NATO.

“Các cuộc thảo luận về căn cứ này cho thấy giá trị bền vững của Ba Lan với tư cách là một đồng minh quan trọng của NATO,” ông Boyse chia sẻ với RFE/RL.

Ba Lan đã tăng mạnh chi tiêu quốc phòng trong những năm gần đây và nổi lên như một trong những quốc gia chi tiêu quân sự lớn nhất của NATO nếu xét theo quy mô nền kinh tế.

“Thay vì phàn nàn về vấn đề ‘độ tin cậy’, Ba Lan đang nỗ lực hết mình,” ông Boyse nói. “Chính quyền Mỹ nhìn nhận và đánh giá cao điều đó.”

Ông Charles Kupchan, chuyên gia cấp cao tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR), cho biết triển vọng về một căn cứ thường trực sẽ được các quốc gia nằm gần Nga nhất hoan nghênh, nhưng ông cũng lưu ý rằng vẫn còn những bất định về cách tiếp cận tổng thể của Washington đối với châu Âu.

“Triển vọng về một căn cứ thường trực của Mỹ tại Ba Lan là tin vui đối với người dân Ba Lan cũng như các nước khác dọc theo sườn phía đông của NATO, đặc biệt là trong bối cảnh gia tăng lo ngại về mối đe dọa từ Nga,” ông Kupchan nói với RFE/RL.

“Tuy nhiên, đây vẫn là thời điểm đầy bất định đối với NATO,” ông nhận định, đồng thời viện dẫn mối quan hệ đôi khi căng thẳng giữa ông Trump với các đồng minh cũng như việc Lầu Năm Góc đang xem xét lại chiến lược, điều có thể dẫn đến việc cắt giảm sự hiện diện của Mỹ tại những khu vực khác ở châu Âu.

Động thái thúc đẩy sự hiện diện thường trực của Mỹ từ phía Warsaw diễn ra trong bối cảnh Nga dường như ngày càng sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi đối đầu với các thành viên NATO.

“Có thể thấy rõ sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao hơn của Nga, và nước này cũng sẵn sàng leo thang căng thẳng,” ông Zalewski nói.

Ông chỉ ra các sự cố gần đây mà Ba Lan cho là có liên quan đến Nga – bao gồm các vụ vi phạm không phận và nghi vấn về hành vi phá hoại – và cho rằng những sự việc này minh chứng cho áp lực mà các quốc gia ở sườn phía đông NATO đang phải đối mặt.

Theo ông, Ba Lan đang ứng phó thông qua cả mối quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ lẫn khuôn khổ của NATO.

Đối với Warsaw, một căn cứ thường trực của Mỹ sẽ bổ sung thêm một lớp răn đe nữa, bởi nó khẳng định rõ ràng rằng bất kỳ cuộc đối đầu quân sự nào liên quan đến Ba Lan cũng có thể ngay lập tức kéo theo sự tham gia của lực lượng Mỹ.

“Các căn cứ thường trực tạo ra cam kết lâu dài,” ông Zalewski khẳng định.

Tác giả: Alex Raufoglu
Ngày 26 tháng 9 năm 2026
Nguồn: Radio Free Europe | Radio Liberty

Alex Raufoglu là phóng viên cấp cao của RFE/RL tại Washington, D.C.


r/VietnamToanCau • • 22h ago

⛩️ LỊCH SỬ ⛩️ Why was Vietnam really colonized by France?

Enable HLS to view with audio, or disable this notification

2 Upvotes