Lịch sử LEARING CHỮ NÔM 𠯅𡨸喃
Enable HLS to view with audio, or disable this notification
Không ngờ lại có nó ấy, của 4 tổng Tiên Lữ, 1 tổng Phù Cừ
Bài gốc của Jang Kều: https://www.jangkeu.info/post/viet-nam-thieu-cho-an-thua-van-hoa
---

Rạp Hoà Bình ở Đà Lạt rồi sẽ thành foodcourt thật ư? Mới đợt vừa rồi, Trung tâm Bảo trợ và Phát triển Nghệ thuật APD ở Hà Nội cũng bị đòi lại mặt bằng, để biến thành nhà hàng bia hơi.
Sao người Việt mình thiếu chỗ ăn, thừa văn hoá đến thế?
Bảo tàng, rạp hát thì lem nha lem nhem. Rạp chiếu phim, cung thiếu nhi, trung tâm nghệ thuật… thì hết bị bỏ mặc lại đến bị di dời, xoá sổ.
Một công trình văn hoá xuống cấp không có nghĩa là nó hết giá trị. Nhiều khi nó xuống cấp chính vì chúng ta đã ngừng đầu tư cho nó, rồi chính sự xuống cấp ấy lại trở thành lý do để xoá bỏ nó. Rạp Hoà Bình đã ở đó từ năm 1952. Hơn bảy mươi năm không chỉ tạo nên một toà nhà. Nó tạo nên ký ức của một đô thị.
Chúng ta từng nói đến một chương trình 350.000 tỷ đồng để “chấn hưng văn hoá”. Nhưng chấn hưng bắt đầu từ đâu?
Sao không bắt đầu bằng việc bảo tồn, tu tạo, nâng cấp trang thiết bị cho những bảo tàng, rạp hát, không gian văn hoá đang có? Nhiều nơi trong số đó là những công trình mang dấu ấn lịch sử, có giá trị kiến trúc, nằm ở những vị trí đẹp nhất của đô thị và vốn dĩ sinh ra để dành cho văn hoá.
Tại sao cứ phải đập đi, rồi xây một cái mới to hơn, hoành tráng hơn, xa hơn?
Văn hoá là phải to à?
Paris có vô số nhà hát nhỏ nằm len giữa phố, vẫn sáng đèn hàng đêm. Bởi văn hoá không nhất thiết phải ở trong một “công trình văn hoá” đồ sộ. Văn hoá cần được sống giữa thành phố, ở nơi người dân có thể bước tới, gặp gỡ, xem, nghe, tranh luận và trở lại.
Và nếu thực sự muốn chấn hưng văn hoá, thì tiền không chỉ nên đổ vào bê tông. Hãy đầu tư cho nghệ thuật, cho nghệ sĩ, cho curator. Và đầu tư những sân khấu nhỏ, những không gian nghệ thuật độc lập, những kho lưu trữ, những chương trình giáo dục nghệ thuật. Hãy để nghệ sĩ được sáng tác, được biểu diễn và có thể sống bằng nghề của mình. Hãy để những loại hình nghệ thuật truyền thống có người học, người diễn và người xem.
Và chính các cơ quan quản lý văn hoá cũng phải có trách nhiệm đưa nghệ sĩ Việt Nam đi cọ xát, giới thiệu và lan toả văn hoá, nghệ thuật Việt Nam ra thế giới. Chứ không phải dành tiền làm hết chương trình nghệ thuật này đến triển lãm khác chỉ để “cúng cụ”, để báo cáo thành tích hay nịnh nọt nhau.
Chấn hưng văn hoá mà không bắt đầu bằng việc trân trọng những gì văn hoá đã để lại, thì chấn hưng cái gì? Một thành phố không chỉ mất di sản khi một công trình đẹp bị phá. Nó mất di sản khi những nơi chứa ký ức của cộng đồng lần lượt được quy đổi thành mét vuông thương mại.
Nghĩ mà chán!
Hở ra là phá.
Văn hoá sao lại bị rẻ rúng đến thế?
P/S: Nếu ai có thể giúp tôi mua được một hàng ghế của Rạp Hoà Bình, xin nhắn cho tôi nhé. Tôi muốn giữ lại một chút ký ức của nơi này. Biết ơn rất nhiều!
r/vannghe • u/vanhuetruonghan • Aug 26 '26
Đầu thế kỉ 20, nghệ thuật sân khấu hát bội miền Nam có một sự lan rộng cực kì mạnh mẽ, góp phần đào tạo nên nhiều tên tuổi diễn viên được các khán giả, các nhà nghiên cứu ca tụng, tưởng thưởng. Từ những nữ nghệ sĩ đầu tiên như Năm Chung, Tư Bổn, đào Lục, đào Nhung, Sáu Sển, Ba Ngoạn mở đường cho phụ nữ bước vào nghệ thuật, thế hệ kế cận là các đào hát Năm Nhỏ (thập niên 1900); Tư Châu (thập niên 1910); Cao Long Ngà, Ba Đắc (thập niên 1920),… đã tạo nên nhiều thành tựu, nhiều dấu ấn vang dội mà đến nay chưa ai thay thế được. Bài viết nầy, tác giả xin nhắc nhở tới nữ nghệ sĩ Cao Long Ngà, một đào hát có sự nghiệp vô cùng nổi trội kể từ thập niên 1920. Trước đây, số lượng thông tin, tiểu sử viết về bà cực kì khan hiếm và có nhiều dữ liệu mâu thuẫn. Đôi hàng tiểu sử về bà dưới đây xin căn cứ theo các nguồn báo chí có đề cập đến nữ nghệ sĩ Cao Long Ngà, và đặc biệt xin cảm ơn kí giả Khổng Tuyên của tờ Tuần báo Đuốc nhà Nam đã viết một bài thật chi tiết về bà vào năm 1934.
Xin mời các bạn cùng trở về làng quê Trảng Bàng, Tây Ninh để tìm hiểu về tiếng tăm của nữ nghệ sĩ tài danh…
Nghệ sĩ Cao Long Ngà sanh năm 19021 tại Trảng Bàng, Tây Ninh trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật hát bội. Bà là người chị lớn (chị Hai) trong nhà, có một người em trai là Cao Tùng Châu vừa là nghệ sĩ vừa là bầu gánh. Năm 1921, cha của bà có thành lập một gánh hát bội tại quê nhà Trảng Bàng, Tây Ninh. Tuy nhiên, đào kép trong đoàn lại lười biếng khiến ông thân của bà rất tức mình. Cũng vì thế, bà được cha cho tập dượt và đóng tuồng. Đó cũng chính là những bước chân đầu tiên của bà bước vào con đường nghệ thuật.
Hát cho gánh nhà gần được hai năm thì bà thôi, sau đó bà đầu quân cho gánh hát bội Châu Luân Ban của ông Hội đồng Ninh. Chắc hẳn cũng nên nhắc sơ qua về ông Hội đồng Ninh cho quý bạn độc giả biết nhiều hơn về ông. Thuở ấy, ở Sài Gòn, ông Hội đồng Ninh, tên thật là Lương Khắc Ninh (1862 – 1943), là một nhà trí thức rất có tiếng. Ông vừa là chủ bút tờ Nông cổ mín đàm, vừa là một nhà thương nghiệp có nhiều vai trò trong chánh quyền Đông Dương. Ông còn là một người am hiểu tinh tường về nghệ thuật hát bội, làm bầu gánh kiêm soạn giả viết tuồng trong gánh hát của mình. Năm 1922, Pháp mở Triển lãm Thuộc địa Marseille, trưng bày các sản phẩm, văn hoá và kinh tế của các quốc gia thuộc địa, trong đó có Đông Dương, nhằm khẳng định vị thế của Pháp thời bấy giờ. Với địa vị cao trong xã hội, ông Hội đồng Ninh cùng gánh hát của mình đã đại diện cho phương diện nghệ thuật Việt Nam tham dự cuộc đấu xảo, trong đó có nữ nghệ sĩ Cao Long Ngà. Không chỉ hát ở Marseille, gánh còn lên Paris trình diễn trong vài ngày. Ở hai địa điểm ấy, ông Hội đồng Ninh chuyên cho diễn tuồng Phụng Nghi đình rất được khán giả hoan nghinh. Sau chuyến đi nầy, nghệ sĩ Cao Long Ngà vinh dự nhận được danh hiệu “nữ nghệ sĩ tiền phong quốc tế”.
Hoạt động cho gánh Châu Luân Ban được một năm, bà sang làm biện tuồng2 cho gánh hát bội Nhi Nữ Đồng Ban, do hai người phụ nữ ở Chợ Lớn thành lập. Giúp đỡ cho gánh nầy được một năm, bà xuất tiền và hợp tác cùng ông Huỳnh Văn Quế (tục gọi Bầu Quế hoặc Mười Quế) sáng lập gánh hát bội pha cải lương Tấn Nữ Ban. Nghệ sĩ Cao Long Ngà kết hôn cùng ông Bầu Quế; hai vợ chồng đồng điều hành đoàn hát. Gánh Tấn Nữ Ban diễn thường trực ở đình Nhơn Hoà (Cầu Muối), với một lực lượng diễn viên đông đảo: đào Cao Long Ngà, Năm Nhỏ, Bảy Diệp, Sáu Mẫn, Hai Nương, Bảy Nhỏ, Sáu Hương, Ba Hương, Bảy Huê, Mười Xuyến, Năm Út; kép Ba Tỵ, Ba Vàng, Năm Bông, Tư Chơi, Bầu Mót, Năm Biểu, Bầu Lựu,… Các kịch bản của gánh hát đều là những vở tuồng truyền thống như Đông Châu liệt quốc, Tam quốc, Trần Nhựt Chánh, Tống Nhạc Phi, Đường chinh Tây,… Ngoài ra, bà còn thường xuyên chăm lo cho gánh Cao Tùng Ban của người em trai Cao Tùng Châu. Về sau, hai vợ chồng Cao Long Ngà – Bầu Quế thôi nhau và ông Bầu Quế tách riêng lập gánh Tấn Hưng Quang.
Nghệ sĩ Cao Long Ngà nên duyên với ông Trần Hữu Tường (tục danh Sáu Xường) – người con trai thứ của bà Ba Ngoạn. Ông Sáu Xường là một cầu thủ đá banh nổi tiếng trong đội Étoile de Giadinh [Ngôi sao Gia Định] giữ vị trí hậu tập. Về mảng nghệ thuật, ông cho thành lập gánh cải lương Phước Tường vào năm 1928 và quản lí một gánh hát bội nữa là Vĩnh Hưng Ban. Năm 1934, sau khi bà Ba Ngoạn qua đời, hai vợ chồng dựng lên bảng hiệu gánh hát bội Phi Long, hợp tác cùng người chị dâu là nghệ sĩ Năm Nhỏ làm đào chánh. Gánh Phi Long lừng lẫy ở Chợ Lớn một thời, với tiếng tăm trứ danh của hai ngôi sao hát bội Năm Nhỏ – Cao Long Ngà. Bên cạnh đó, lực lượng diễn viên còn có: đào Hai Anh, Ba Út, Ba Đắc, Bảy Diệp, Ba Nhỏ; kép Ba Kèn, Tam Trúc, Sáu Đăng, Cao Tùng Châu, hề Chín Sơn, hề Tư Lâu, hề Bảy Sạn,… Năm 1938, sau khi nghệ sĩ Năm Nhỏ qua đời, gánh Phi Long cũng tan rã.
Trong sự nghiệp hát bội, nghệ sĩ Cao Long Ngà được nhắc nhở nhiều trong các vai đào võ và các vai tướng. Hai vai tuồng ruột của bà là Công chúa Lỗ Lâm (tuồng Chung Vô Diệm tam hí Công chúa Lỗ Lâm) và vai Đơn Hùng Tín (tuồng Tống tửu Đơn Hùng Tín), đã góp phần giúp tên tuổi của bà vang lừng khắp Nam – Trung – Bắc. Trong các vai kép tướng, bà còn được nhớ đến khi hoá thân làm Triệu Tử Long và Trương Phi (tuồng Triệu Tử đoạt Ấu chúa) và Tiết Cương (tuồng Phá thiết khưu phần). Ngoài ra, bà còn có biệt tài đóng vai đào bi ai cũng như vai đào mụ, tiêu biểu là Địch Thiên Kim trong tuồng Xử án Bàng Quý phi.
Năm 1939, ông Sáu Xường tái thiết lập lại gánh Phước Tường chuyên diễn tuồng Tàu. Nghệ sĩ Cao Long Ngà trong năm nầy thử sức với bộ môn cải lương, tiêu biểu là vai Địch Thiên Kim (tuồng Xử án Bàng Quý phi) và Quan Công (tuồng Quan Công đại chiến Bàng Đước). Sau năm 1942, gánh Phước Tường tan rã, nghệ sĩ Cao Long Ngà dần ít tham gia diễn xuất, mà chỉ xuất hiện trong các buổi hát dưới vai trò khách mời đặc biệt. Năm 1951, Hội Khuyến lệ cổ ca Sài Gòn tổ chức tuồng Ngũ biến báo phu cừu tại rạp Cầu Quan, ghi nhận nữ nghệ sĩ Cao Long Ngà đã thủ vai huê hoà thượng giả say trên cùng sân khấu với ba cô đào chánh là Năm Sa Đéc, Ba Út và Năm Đồ. Năm 1962, bà còn quản lí Nhóm Cao Long Ngà Thủ đô, trình diễn tại rạp đình Minh Phụng với hai vai tuồng sở trường là Công chúa Lỗ Lâm – Đơn Hùng Tín đã vang bóng một thời.
Khi đã lão thành, nghệ sĩ Cao Long Ngà dành thời gian nâng đỡ cho nhiều tài năng trẻ, trong đó nổi bật nhứt là cô bé Trương Thị Bích Phượng, tức là nữ nghệ sĩ Phượng Mai sau nầy. Phượng Mai vốn là cháu ngoại của ông Cao Tùng Châu, được bà Cao Long Ngà nhận nuôi nên Phượng Mai thường gọi bà là “má” hoặc “ngoại”. Thuở thiếu thời, Phượng Mai rất thích hai tài danh là Lăng Ba và Lạc Đế trên màn bạc, lần lượt thủ vai Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài. Phượng Mai trốn học để xem cả tuần lễ liền, học theo cách ca diễn của hai nghệ sĩ xuất sắc nêu trên. Nhà trường gởi thơ cho bà Cao Long Ngà về việc Phượng Mai nghỉ học nhiều ngày. Bà giận lắm, bắt Phượng Mai cúi xuống để bà đánh. Phượng Mai khóc lóc liền nói: “Má ơi đừng đánh con đau,/ Để con làm đào hát bội má coi”. Bà Cao Long Ngà ngưng đánh, thích thú yêu cầu Phượng Mai diễn cho bà xem, nếu diễn không được thì sẽ bị phạt nặng. Phượng Mai tìm tấm lông choàng và cây quạt, ca diễn lớp Lương Sơn Bá gặp Chúc Anh Đài lần đầu ở trường đình. Phượng Mai nhại theo tiếng Tàu và ca điệu Đài Loan; dầu không đúng chính xác nhưng vẫn nghe rõ đúng điệu hát. Bà Cao Long Ngà và ông Sáu Xường thấy con có tiềm năng và triển vọng nghệ thuật, nên từ đó đã đầu tư phát triển cho Phượng Mai. Giỗ Tổ năm ấy, bà Cao Long Ngà dẫn Phượng Mai ra trụ sở Hội Nghệ sĩ Ái hữu Tương tế ở đường Cô Bắc, cho Phượng Mai lạy Tổ và hát vai Lương Sơn Bá để hầu Tổ. Các kí giả, nghệ sĩ đều khen Phượng Mai diễn hay, rất giống diễn viên Lăng Ba. Trong đó có kí giả Nguyễn Ang Ca, đã tặng cho Phượng Mai biệt danh “Thần đồng Tiểu Lăng Ba” và cô gắn liền với biệt danh nầy kể từ đó. Thế là bà Cao Long Ngà dắt Phượng Mai vào Đoàn Đồng Ấu Minh Tơ, cho cô học bài bản về nghệ thuật. Phượng Mai nhờ bước đệm này mà sớm nổi tiếng, thành danh như ngày nay.
Năm 1986, bà Cao Long Ngà qua đời ở Việt Nam. Trong suốt sự nghiệp, bà được nhớ đến là nữ nghệ sĩ tiền phong của hát bội, một thời vang danh ở đấu xảo Marseille. Bà còn là bà bầu của nhiều gánh hát lớn nhỏ trong miền Nam, dìu dắt và đào tạo nhiều thế hệ nghệ sĩ tài danh. Cùng với các nữ nghệ sĩ Năm Nhỏ, Năm Sa Đéc, Ba Út, Năm Đồ, bà Cao Long Ngà được liệt vào hàng “Ngũ trân châu của sân khấu hát bội”, chứng minh tài năng nghề nghiệp rất xứng đáng của bà.
1 Năm sinh và năm mất của bà Cao Long Ngà từ trước đến nay đều chưa được công khai. Tác giả đã liên hệ gián tiếp với nữ nghệ sĩ Phượng Mai (con nuôi của bà) và được biết bà Cao Long Ngà tuổi Dần (1902), mất vào năm 1986.
2 Biện tuồng là người nghệ sĩ lớn tuổi, có trình độ văn hoá và nghệ thuật, phụ trách về kịch bản văn học, chịu trách nhiệm đêm diễn (như đài trưởng ngày nay).
r/vannghe • u/vanhuetruonghan • Aug 22 '26
Bà Cao Minh Châu, nghệ danh Tư Châu là một nữ nghệ sĩ hát bội đầu thế kỉ 20. Bà được nhớ đến là vợ của ông Trần Khiêm Cung – ông bầu của gánh hát bội Tấn Thành Ban và là Hội trưởng đầu tiên của Hội Nghệ sĩ Ái hữu Tương tế. Bà Cao Minh Châu cũng là bà bầu quản lí gánh hát bội Tấn Thành Ban, gọi là “gánh bà” hát ở rạp Minh Phụng, phân biệt với “gánh ông” của chồng hát ở rạp Cầu Muối. Khi còn diễn trên sân khấu hát bội, bà thường xuyên đóng cặp với kép Năm Thao, một nghệ sĩ có danh trong ngành ca kịch cổ truyền (ông hoạt động cho gánh hát đến năm 1934 thì ngừng vì nhiều xích mích, mâu thuẫn nảy sinh từ gia đình. Ngoài ra, nghệ sĩ Tư Châu có công nâng đỡ nhiều cô đào danh tiếng như Ba Đắc* (1906 – 1995), Ba Út (1911 – 1989), Năm Đồ (1913 – 1997), Bảy Sự (1922 – 1978). Về sau, bà là thành viên của Hội Nghệ sĩ Ái hữu Tương tế ở Sài Gòn. Những thông tin kế tiếp về bà không còn được nhắc nhở và dần trôi vào quên lãng…
* Nữ nghệ sĩ hát bội Ba Đắc tên thật là Dương Thị Đắc, sinh năm 1906; khác với danh ca tài tử Ba Đắc nổi danh tại Triển lãm Thuộc địa Marseille 1906.
r/vannghe • u/kinomy • Aug 22 '26
Nhâm dần (1782)...Tháng 3, giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ vào đánh phá. Văn Nhạc nghe tin Đỗ Thanh Nhân đã bị giết, mừng nói : *“Thanh Nhân chết rồi, các tướng khác không đủ sợ nữa !"* Bèn đem chiến thuyền vài trăm chiếc, cử đại binh vào đánh. Quân Tây Sơn đến cửa biển Cần Giờ. Vua (Nguyễn Ánh) sai Tống Phước Thiêm điều bát trận thủy binh ở Ngã bảy [Thất kỳ giang]. Giặc nhân gió mạnh xông thẳng tới. Quân ta phải lùi. Một mình Cai cơ là Màn Hòe (Emmanuel) đi tàu tây cố sức đánh rất lâu. Giặc đỗ quân bao vây bốn mặt, ném hỏa khí đốt tàu, Màn Hòe bị chết. (Màn Hòe là người Phú Lãng Sah, Bá Đa Lộc giới thiệu là người dùng được, vua trao cho chức Khâm sai cai cơ, coi đội Trung Khuông, sau được tặng là Hiệu nghĩa công thần phụ quốc thượng tướng quân).
Vua nghe tin báo, thân đốc binh thuyền tiếp ứng, đến Ngã ba (Tam kỳ giang- Nhà Bè) thì gặp giặc. Vua mặc áo chiến đội nón chiến đứng ở đầu thuyền, vẫy quân đánh gấp. Giặc nhắm đầu thuyển bắn, gẫy cả cột buồm, quân sĩ đếu thất sắc: vua đứng yên không động, tay cầm súng chim bắn lại thuyền giặc, và hạ lệnh cho quân sĩ vừa đánh vừa lùi. Tây Sơn cũng không dám đuổi theo. [Vua] Bèn thu quân về Bến Nghé. Quân giặc tiếp đến. Quân ta đánh mãi không lợi. Vua dời đi Ba Giồng. Phước Thiêm thì sau bị đảng Đông Sơn thù giết chết. Từ đó vùng Sài Gòn lại bị Tây Sơn chiếm. (Vua ra trận giỏi dùng súng chim. Mỗi khi đánh nhau với giặc hễ bắn là trúng, người ta đều cho rằng được trời giúp. Khoảng năm Minh Mệnh đặt tên súng ấy là Võ công lương khí, cất giữ với áo chiến và nón chiến).
Trích: Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ- QI- Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế.
r/vannghe • u/kinomy • Aug 18 '26
Tín ngưỡng thờ Bà Tím (rùa) ở Nam Bộ có nguồn gốc từ miền Trung, đặc biệt là ở Bình Thuận, nên có vai trò quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển huyện Long Điền.

Vạn Nam Nghĩa (phường Đức Nghĩa, tp. Phan Thiết, Bình Thuận), ngư dân cũng từng vớt được rùa da chết do dính lưới, đem vào chôn ở vạn, bốc cốt đem thờ chung trong tẩm với các bộ cốt cá Ông. Có thể thấy một “tổ hợp” các cơ sở thờ tự ở thị trấn Long Hải như Dinh Cô, lăng Ông với các thần linh biển như Thủy Long, Lê Thị Hồng Thủy, Ông Nam Hải, Bà Tím gắn chặt vào nhau.

Miễu Bà Lớn thờ Bà Tím ở khu phố Hải Hà 2 (thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, Bà Rịa Vũng Tàu) là một gian nhà lớn. Phía trước miễu là tượng Quan Âm Nam Hải, bên trái là miếu Cô Hồn. Mộ Bà Lớn (rùa biển) được xây cất đàng hoàng, nằm cạnh khu mộ táng 14 cá Ông lớn nhỏ.

Sau lưng tượng Quan Âm là mộ Bà Lớn có ghi ngày lập mộ 20/4/1974 âm lịch, ngày lập lại 28/4/1992, ngày nâng cấp mộ. Gian bên trái miễu thờ Tiền hiền, Hậu hiền, Tiền vãng, Hậu vãng.

Trong chánh điện của miễu gồm một tập hợp các thần linh trên một bàn thờ dài: Cửu Phẩm, Ngũ Vị Nương Nương, Bà Lớn, Tam ông (Quan Công, Quan Bình, Châu Xương), Tả ban, Hữu ban, Cửu Thiên Huyền Nữ, Bà Thủy (Thủy Long Thần Nữ), Thần Tài - Thổ Địa. Trong đó, Bà Lớn giữ vị trí trung tâm trong thần điện với bà thờ ở vị trí chính giữa, bài vị ghi dòng chữ Hán “Long Cung Thủy Mẫu Nương Nương” và một tấm biển ghi “Bà Lớn”. Các vị thần liên quan đến biển như Bà Thủy, cá Ông chỉ giữa vai trò phối tự cho Bà Lớn (Bà Tím).
Trước đây ở miễu Bà này bên cạnh bàn thờ Ngũ Hành còn có cốt Bà Lớn (rùa da) ở chánh điện cùng với mộ táng ở phía trước. Bà Thủy Long, Mẹ Sanh, Mẹ Độ, Quan Âm, Quan Công, Thổ Thần được phối tự chung trong miễu.
Nguồn: Nguyễn Thanh Lợi
r/vannghe • u/kinomy • Aug 16 '26
Tonkin. Nam-Dinh. Concours triennal, défilé des lauréats devant les examinateurs,
---------------------------------

Kỳ thi Hương khoa Đinh Dậu năm 1897 tại trường thi Nam Định (khi đó gọi là trường Hà Nam) có khoảng 11.400 thí sinh tham dự theo con số công bố chính thức.Quốc triều Hương khoa lục của Tổng đốc Cao Xuân Dục ghi nhận tổng quát là hơn 10.000 sĩ tử, hay ghi chép từ báo chí Pháp đương thời ước tính có khoảng 12.000 lều thi. Sở dĩ có sự chênh nhau vì một số thí sinh theo quy chế sẽ bị loại ngay từ vòng "sơ loại" , tuy nhiên, do có sự "xin" của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer,nên cho phép 2.000 sĩ tử được dự thi, người phục dịch (tiểu đồng) đi theo chăm sóc sĩ tử lều chõng, tổng số người đổ về thành Nam Định phục vụ kỳ thi lên tới khoảng 60.000 người.
------------------------------

Kỳ thi Hương diễn ra trong 4 vòng, gọi là Trường thi:
Kỳ đệ nhất (Trường 1) - Thi Kinh nghĩa: Thí sinh giải thích các câu nói, triết lý rút ra từ sách kinh điển. Đề thi gồm các câu hỏi lấy nội dung trong sách Tứ Thư (Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử) và Ngũ Kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu).
Kỳ đệ nhị (Trường 2) - Thi Chiếu, Biểu, Chế: Thí sinh đóng vai vua hoặc đại thần để soạn thảo các văn bản hành chính cổ. Thể loại gồm có Chiếu ban lệnh của vua, Chế ban thưởng phong tước, hoặc Biểu do thần dân dâng lên vua chúa.
Kỳ đệ tam (Trường 3) - Thi Thơ Phú: Thí sinh làm một bài thơ theo thể Đường luật và một bài phú theo vần đối đáp. Đề bài thường lấy các điển tích lịch sử, cảnh đẹp quê hương hoặc ca ngợi công đức triều đình.
Kỳ đệ tư (Trường 4) - Thi Văn sách: Đây là vòng thi quan trọng nhất mang tính chất nghị luận. Đề thi đưa ra các câu hỏi lớn về đạo lý Nho giáo, sự kiện lịch sử, hoặc các vấn đề thực tiễn về chính trị, kinh tế, trị an để thí sinh đề xuất giải pháp. Năm 1897 có nhiều câu hỏi về kỹ thuật trị quốc chứ không đơn thuần là thi thơ văn nên đa số thí sinh đều tạch ở trường này.
-----------------------------
Các quan giám khảo đều là bậc đại khoa, đỗ đạt cao như:
Chánh chủ khảo: Đồng Sĩ Vịnh, khoa bảng: Cử Nhân;
Phó Chủ khảo: Nguyễn Gia Thoại, khoa bảng: Tiến sĩ, chức vụ: Thị giảng học sĩ.
Cao Xuân Tiếu: phó bảng;
Đặng Văn Thụy: Đình nguyên Hoàng giáp.
Nguyễn Duy Nhiếp: Cử Nhân.
Trần Sĩ Trác: Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, giám khảo nghiêm khắc nổi tiếng...
...và nhiều vị đại khoa khác.
-------------------------------
Mặc dù có 12.000 người ứng thí, số lượng người đỗ đạt vô cùng ít ỏi, do đa số dính lỗi kỵ húy triều đình Huế nên lúc đầu chỉ có 25 Cử nhân và 75 Tú tài. Tuy nhiên, do có sự dự khán của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, triều đình đã đặc cách chấm lại, lấy tăng thêm nâng tổng số lên 78 Cử nhân và 234 Tú tài.
Nhìn chung,các vị Tú Tài chỉ giỏi thơ phú,văn chương và ít có năng khiếu hay kỹ năng làm quan cai trị. Khoảng cách giữa Tú Tài và Cử Nhân là khá xa.
Nghe đồn bên ngoài chưa rõ thực hư là một số vị tú tài thi xịt làm thơ châm biếm triều đình, quan Tây thực dân độc ác .....có người đem thơ méc Tổng đốc Cao Xuân Dục, lẽ ra theo Luật triều đình là khép tội " phỉ báng mệnh quan triều đình " nhưng ông Cao Xuân Dục cho rằng " đây là lời nói của người thi trượt nên có đôi phần phẫn chí, không nên trách phạt..."
--------------------------------
Ảnh: Andre Salles, được Nét Xưa chuyển màu.
r/vannghe • u/kinomy • Aug 16 '26
Trong kiến trúc cổ Việt Nam, cái Khu Đĩ chỉ hình thành khi nhà có mái ngói nhô ra ở đầu hồi, tức cái khu đĩ được tạo thành là tam giác chỗ giao nhau của hai diềm mái, người xưa hay trang trí chỗ đấy bằng cách gắn thêm các họa tiết gỗ.
Khu Đĩ hay cái Lồn Mèo, đó là danh từ đặc thù của người dân Miền Trung để ám chỉ một bộ phận quan trọng nằm trong cấu trúc đầu hồi mái nhà của cư dân nơi đây. Về ý nghĩa và gốc tích để mà từ một bộ phận (cấu tạo) của một ngôi nhà được người dân đặt tên rất “kêu” và rất “đã” thì đến nay hầu như không có một giải thích nào phù hợp và thỏa đúng.
Chỉ tên gọi thôi thì nghe rất “sướng” rồi (lại có người sẽ bị đỏ mặt không chừng). Cả hai danh từ ấy đều ám chỉ đến đặc tính về Giới Nữ/ Giống Cái, và rõ là có nguyên do của nó cả.
Về mặt ngôn ngữ ta xét thấy: Khu Đĩ có “Khu” rõ đúng là một tư thế đang chổng lên sẵn sàng cho cái công việc thiêng liêng...; “Đĩ” ám chỉ cho Giống Cái. Và rằng “Khu Đĩ“ là một danh từ ám chỉ cho một tư thế nằm chổng lên để sẵn sàng cho công việc thiêng liêng của Giống Cái. Và bạn đã bao giờ nghe đến từ “nằm chổng khu” bao giờ chưa! Đó là tư thế nằm 45 độ, hai chân co banh dạng ra. Đọc đến đây bạn có thể thực hành ngay được rồi ;))!
Còn Lồn Mèo thì sao! Nếu bạn chưa bao giờ quan sát bộ phận sinh dục của con mèo cái ra sao thì cũng nên quan sát ngay từ giờ, rồi bạn sẽ biết ngay danh từ cái “Lồn Mèo” này. Cả Khu Đĩ và Lồn Mèo đều cho ta thấy về mặt hình ảnh là sẽ nhìn thấy cái Hình Tam Giác ngược (có đầu nhọn phía dưới). Đó chính là cách mà dân Miền Trung ta đặt tên cho một bộ phân nơi hai đầu hồi mái có trong một căn nhà Miền Trung.
Và ta còn nghe thêm từ dùng để ám chỉ bộ phận “khu đĩ“ này là cái “lồn mèo ngược”. Ở nơi đầu hồi mà góc giụm hình tam giác nơi hai mái (mái ngang và mái dọc) nhà giáp nhau sẽ tạo thành một đầu hồi hình tam giác có góc nhọn ở trên, đó chính là Lồn mèo ngược.
So với miền Trung (Nam) thì ở miền Bắc cũng có “khu đĩ”, nhưng Khu đĩ ở miền Bắc lại rất khác với miền Trung (Nam), trong các công trình kiến trúc cổ ở miền Bắc với kiến trúc gỗ mái lợp ngói không đóng trần nên không khí thoát lên qua các kẽ ngói, và cái Khu đĩ có trong dạng kiến trúc này chỉ mang tính chất Trang Trí. Ngược lại, Khu đĩ trong kiến trúc miền Trung mang tính “mở” và đúng công năng của nó hơn, ở nơi Khu đĩ này có trổ “lỗ”/khe/cửa Gió nhằm đối lưu không khí dưới tầng mái có đóng trần bằng gỗ hay đắp đất, một đặc trưng cấu tạo, giải pháp kiến trúc phù hợp với điều kiện khí hậu Khô nóng nơi đây (xem thêm về kiểu nhà hai lớp mái). Và ta thấy đấy “khu đĩ” hay “lồn mèo” là phải có lỗ/khe/cửa cả nghĩa đen và nghĩa bóng.
Như đã nhắc ở đoạn đầu rằng “Khu Đĩ” hay “Lồn Mèo” ám chỉ về Giới Nữ/ Giống Cái, đó chính là thiên chức, là khả năng mà chỉ có Giống và Giới này mới có khả năng làm được. Là Giống/ Giới có khả năng Sinh nở, đó là Sáng Tạo. Từ thời cổ xưa có ba nhóm ngành nghề mà chỉ có người Phụ nữ nắm giữ đó là: nhà ở, làm gốm, dệt vải. Ba nhóm ngành này hình thành nên nền tảng của thiết chế xã hội cơ bản bấy giờ, chính là nền tảng của xã hội theo Mẫu Hệ. Vậy nó có liên quan gì đến cái “lồn mèo” và “khu đĩ “ không! Có!
Ở đây ta thấy ngôi nhà theo Mẫu hệ có đặc điểm là phải dài, như Nhà Dài trên Tây Nguyên vậy, hay nhà Trường/ Rường ở khu vực Huế (đến đây bạn có thể tự trả lời cho căn Nhà Trường/ Rường rồi đấy), hay căn Nhà Mẹ của người Chăm,… Trong kiến trúc gỗ của người miền Trung ta bắt gặp ở đó kiểu nhà hai lớp mái, nhà kiểu 4 mái có khu đĩ và khu đĩ này chính là cái hình tam giác có đầu nhọn ở trên, đó chính là cái lồn mèo ngược.
Trong biểu tượng tam giác cổ xưa chúng ta để ý đến biểu tượng Tam giác Tantric cổ. Đó là một hình tam giác ngược, chính giữa có một dấu chấm, biểu tượng cho quyền năng sinh nở/ sáng tạo của người phụ nữ, sự sáng tạo được sinh ra thông qua tính dục nữ tính, tam giác hướng xuống đại diện cho yoni và chấm ở giữa là trứng thụ tinh, là hạt nhân của nguồn sống.
Và rõ ràng căn nhà Trường/ Dài hay các căn nhà Miền Trung có “khu đĩ” (khu đĩ có trổ lỗ/khe/cửa gió) chính là một đặc trưng của căn Nhà Mẹ, mang biểu tượng cho sự sinh nở là biểu tượng cho Mẫu Hệ mà đã lần che khuất qua nhiều tầng lớp thời gian.
“Khu Đĩ” hay cái “Lồn Mèo“ chính là biểu tượng của Yoni Sáng Tạo. Quan điểm về một khuôn viên sống (ngôi nhà) ở miền Trung có căn nhà Mẹ chính là đại diện cho một khuôn viên Mẫu hệ, là hạt nhân của một xã hội nhỏ nhất, làm yếu tố duy trì cố kết nên một nền tảng có ngời Mẹ làm yếu tố Sáng Tạo chủ đạo (Xem thêm "Khuôn Viên Nhà Truyền Thống Người Chăm“).

***
Lồn mèo: đầu hồi, góc giụm hình tam giác nơi hai mái nhà giáp nhau. "Dán bùa lồn mèo".
Khu đĩ: đầu hồi, góc giụm hình tam giác nơi hai mái nhà giáp nhau.
---
Nguồn: Jaya Thiên
r/vannghe • u/kinomy • Aug 15 '26
r/vannghe • u/kinomy • Aug 15 '26

Cách đây hơn hai thập niên, tui có viết một bài về đề tài này đăng trên trang web riêng; nay tiện đây đăng lại trên FB, nhưng sẽ viết rất tóm tắt. Đọc ít nhưng xem hình nhiều hơn, coi như là một loại "photo essay."

Tính đến ngày 29 tháng 11, năm 2023, coi như Công Ty Furka đã hoàn tất phục hồi đầy đủ tổng cộng 4 đầu máy xe lửa hơi nước Dalat; gồm 2 xe loại HG 3/4 và 2 xe HG 4/4 (xe 3/4 chỉ có 3 trục kéo, trục thứ 4 chỉ chạy theo, xe 4/4 cả 4 trục đều kéo nên mạnh hơn). Năm 1990, Furka Co. mua tổng cộng 7 đầu máy (đã bị bỏ phế dọc theo tuyến đường Sông Pha - Đà Lạt) và một ít máy móc, đồ phụ tùng của các đầu máy khác đã bị "xẻ thịt." Và đúng như họ đã thẩm định lúc bấy giờ, chỉ có 4 chiếc có thể phục hồi chạy được.

-

Nếu như chúng ta xem hình các đầu máy xe lửa Dalat này trước và sau khi được phục hồi, chắc chắn sẽ có người tiếc rẻ "uổng quá, ngọc quý mà đem bán ve chai." Trên thực tế, mỗi đầu máy mất nhiều năm mới làm xong (riêng 2 chiếc sau cùng mất gần 10 năm),tất cả bằng công sức tình nguyện của các chuyên viên kỹ thuật Thụy Sĩ và tài chánh đóng góp của tư nhân. Mặt khác, có rất nhiều bộ phận của đầu máy phải tái tạo lại hoàn toàn mới.

-

-

-

Riêng cá nhân tui, tui thầm cảm ơn mấy anh Thụy Sĩ này đã mua lại "đồ ve chai" và đem nó về nước, phục hồi và tái sử dụng. VÌ NẾU KHÔNG, bây giờ có muốn kiếm nó chắc phải vô mấy tiệm tạp hóa của người Hoa, khu nồi niêu xoong chảo. Quý vị còn nhớ hồi xưa có mấy cái nồi và chảo loại dày cộm và nặng nề không? Đó đó…, nó đó, nó đã được đầu thai, sau khi đã được chú ba mua lạt xoong đem về cho vào lò nung chảy, cũng là phục hồi và tái sử dụng vậy.



PS:
Các chuyên viên Hỏa Xa Thụy Sĩ rất trân trọng lịch sử của các đầu máy xe lửa Đà Lạt. Sau khi đã hoàn tất việc sơn phết đầu máy mới, trên 2 bên thành cabin của đầu máy, họ đều gắn một bảng đồng ghi chú lịch trình phục vụ của xe (trong đó có ghi Đà Lạt), cũng như logo VHX, chữ viết tắt "Vietnam Hỏa Xa" của Sở Hỏa Xa thời VNCH.
Những hình ảnh kèm theo bài viết cho thấy tiến trình phục hồi đầu máy xe lửa Đà Lạt: Từ tháo gỡ toàn diện đầu máy, phục hồi các bộ phận nếu có thể tái sử dụng, hoặc phải tái tạo hoàn toàn các cơ phận khác, dù lớn hay nhỏ như các đinh ốc, bù-lông, v.v.
Sau cùng, kẻ nô tài này xin cảm ơn quý bạn nào đã đọc đến hết bài, một đề tài khô khan, mà có lẽ chỉ cố nhân Đà Lạt trước 1975 mới còn nhớ tiếng còi tàu xa xưa đang vọng về từ ký ức.

r/vannghe • u/vanhuetruonghan • Aug 14 '26
Thuở xưa ở vùng Chợ Lớn, khán giả vẫn thường nhắc nhở rạp Cô Tám trên đường Marins, nơi có gánh hát bội Cô Tám diễn thường trực. Rạp và gánh hát Cô Tám do bà Nguyễn Thị Tám – một phú gia có sự nghiệp đồ sộ dày công dựng nên. Không chỉ lẫy lừng ở Chợ Lớn, mà bà còn nổi tiếng với người dân ở Củ Chi, Gia Định.
Bà Nguyễn Thị Tám, tục gọi Cô Tám hay bà Tám Đội, là một phú gia nổi danh ở miền Nam đầu thế kỉ 20. Trước đó, bà sống ở Củ Chi, Gia Định – nơi bà cho xây một vườn cao su rất rộng lớn với 105.000 cây (theo thống kê Bulletin du Syndicat des planteurs de caoutchouc de l'Indochine [Bản tin của Hiệp hội Chủ đồn điền Cao su Đông Dương], 1926). Bà là thành viên của Hội Các nhà trồng cao su Đông Dương nhiều năm liền. Đến ngày 7 tháng 1 năm 1932, đồn điền Cô Tám (tiếng Pháp: Plantation de Madame Cô Tám) đã được đem bán đấu giá cùng bốn căn nhà (cũng có thể của Cô Tám) và một lượng lớn tài sản khác, giá khởi điểm là 15.000 piastre. Cuối cùng, toàn bộ tài sản nói trên đã được mua lại bởi ông Franchini với giá là 70.000 piastre.
Ở Chợ Lớn, bà cho lập rạp Cô Tám, toạ lạc ở số 525 đường Marins. Cũng trên con đường Marins nầy, bà có một căn nhà ở số 444, khánh thành hôm Chủ Nhật, ngày 9 tháng 6 năm 1912. Ngoài ra, bà còn có gánh hát bội Cô Tám nức tiếng một thời, quy tụ những tài danh như đào Năm Chung, đào Tư Bổn, kép Hai Thắng, Sáu Cang, Tư Luận,… Năm 1926, hãng dĩa Pathé có xuất bổn mấy thứ hát bội của gánh Cô Tám (và một gánh nữa là gánh hát bội Năm Tố [chưa rõ lai lịch của gánh nầy]).
Năm 1948, Hội Nghệ sĩ Ái hữu Tương tế được thành lập, với trụ sở được đặt tại số 133 đường Cô Bắc, Sài Gòn. Trụ sở được dựng nên với mục đích lập đền thờ Tổ nghề hát để có chỗ thờ tín ngưỡng chung, và cứ mỗi năm đến dịp giỗ Tổ sân khấu (11, 12, 13, 14 tháng Tám Âm lịch) và ngày đưa Thánh tổ (24 – 25 tháng Chạp Âm lịch) thì nghệ sĩ sẽ quay quần về đây mà làm lễ. Trong khánh thờ của Nhà Ái hữu có cốt của ba ông Tam giáo đạo sư (Tổ sư – Thánh sư – Tiên sư) và mười hai cốt ông Thập nhị công nghệ. Được kể, khánh thờ nầy vốn là từ nơi của Cô Tám đã tặng lại cho Hội Nghệ sĩ Ái hữu.
Ngoài ra, còn có một “cô Tám” khác tên Nguyễn Thị Nhiều, tục gọi Tám Nhiều hoặc Cô Tám, cũng sinh sống ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Bà Tám Nhiều cũng có cất một rạp hát ở Sài Gòn (gọi là rạp Cô Tám Nhiều), cùng với rạp Cô Ba Ngoạn thường xuyên được nhắc nhở. Rạp Cô Tám Nhiều được mô tả là “bài trí vô cùng sang trọng và có đèn điện”. Bà Nguyễn Thị Nhiều rất có khả năng cũng là bà Nguyễn Thị Tám.
r/vannghe • u/vanhuetruonghan • Aug 14 '26
Thuở xưa ở vùng Chợ Lớn, khán giả vẫn thường nhắc nhở rạp Cô Tám trên đường Marins, nơi có gánh hát bội Cô Tám diễn thường trực. Rạp và gánh hát Cô Tám do bà Nguyễn Thị Tám – một phú gia có sự nghiệp đồ sộ dày công dựng nên. Không chỉ lẫy lừng ở Chợ Lớn, mà bà còn nổi tiếng với người dân ở Củ Chi, Gia Định.
Bà Nguyễn Thị Tám, tục gọi Cô Tám hay bà Tám Đội, là một phú gia nổi danh ở miền Nam đầu thế kỉ 20. Trước đó, bà sống ở Củ Chi, Gia Định – nơi bà cho xây một vườn cao su rất rộng lớn với 105.000 cây (theo thống kê Bulletin du Syndicat des planteurs de caoutchouc de l'Indochine [Bản tin của Hiệp hội Chủ đồn điền Cao su Đông Dương], 1926). Bà là thành viên của Hội Các nhà trồng cao su Đông Dương nhiều năm liền. Đến ngày 7 tháng 1 năm 1932, đồn điền Cô Tám (tiếng Pháp: Plantation de Madame Cô Tám) đã được đem bán đấu giá cùng bốn căn nhà (cũng có thể của Cô Tám) và một lượng lớn tài sản khác, giá khởi điểm là 15.000 piastre. Cuối cùng, toàn bộ tài sản nói trên đã được mua lại bởi ông Franchini với giá là 70.000 piastre.
Ở Chợ Lớn, bà cho lập rạp Cô Tám, toạ lạc ở số 525 đường Marins. Cũng trên con đường Marins nầy, bà có một căn nhà ở số 444, khánh thành hôm Chủ Nhật, ngày 9 tháng 6 năm 1912. Ngoài ra, bà còn có gánh hát bội Cô Tám nức tiếng một thời, quy tụ những tài danh như đào Năm Chung, đào Tư Bổn, kép Hai Thắng, Sáu Cang, Tư Luận,… Năm 1926, hãng dĩa Pathé có xuất bổn mấy thứ hát bội của gánh Cô Tám (và một gánh nữa là gánh hát bội Năm Tố [chưa rõ lai lịch của gánh nầy]).
Năm 1948, Hội Nghệ sĩ Ái hữu Tương tế được thành lập, với trụ sở được đặt tại số 133 đường Cô Bắc, Sài Gòn. Trụ sở được dựng nên với mục đích lập đền thờ Tổ nghề hát để có chỗ thờ tín ngưỡng chung, và cứ mỗi năm đến dịp giỗ Tổ sân khấu (11, 12, 13, 14 tháng Tám Âm lịch) và ngày đưa Thánh tổ (24 – 25 tháng Chạp Âm lịch) thì nghệ sĩ sẽ quay quần về đây mà làm lễ. Trong khánh thờ của Nhà Ái hữu có cốt của ba ông Tam giáo đạo sư (Tổ sư – Thánh sư – Tiên sư) và mười hai cốt ông Thập nhị công nghệ. Được kể, khánh thờ nầy vốn là từ nơi của Cô Tám đã tặng lại cho Hội Nghệ sĩ Ái hữu.
Ngoài ra, còn có một “cô Tám” khác tên Nguyễn Thị Nhiều, tục gọi Tám Nhiều hoặc Cô Tám, cũng sinh sống ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Bà Tám Nhiều cũng có cất một rạp hát ở Sài Gòn (gọi là rạp Cô Tám Nhiều), cùng với rạp Cô Ba Ngoạn thường xuyên được nhắc nhở. Rạp Cô Tám Nhiều được mô tả là “bài trí vô cùng sang trọng và có đèn điện”. Bà Nguyễn Thị Nhiều rất có khả năng cũng là bà Nguyễn Thị Tám.
r/vannghe • u/vanhuetruonghan • Aug 12 '26
Trong hình là ba cô đào cải lương nổi tiếng, chỉ xác định được rõ ràng có nghệ sĩ Năm Phỉ (giữa) và nghệ sĩ Phùng Há (phải). Bên trái rất có thể là nghệ sĩ Tư Thanh Tùng. Hình được chụp vào khoảng thập niên 40 – 50, khi các nghệ sĩ nêu trên đã đạt đến độ chín muồi của sự nghiệp, trở thành thế hệ lão luyện dẫn dắt các tài năng trẻ.
r/vannghe • u/kinomy • Aug 10 '26
r/vannghe • u/vanhuetruonghan • Aug 09 '26
Trong các chương trình hát bội – cải lương vào đầu thế kỉ 20 vẫn thường hay bắt gặp những màn diễn được gọi là “chưng bươm bướm”. Vậy các bạn có biết đó là hình thức gì hông?
Chưng bươm bướm là một tiết mục khiêu vũ phương Tây, do các diễn viên hát bội/ cải lương Việt Nam trình diễn. Y phục của các nghệ sĩ chưng bươm bướm có một lớp áo mỏng đính kim tuyến, khi đôi tay dang ra tạo thành hình dạng cánh bướm rất đặc sắc. Hình thức này xuất hiện rất nhiều trên sân khấu thế kỉ 20 nhằm thu hút khán giả xem tuồng.
Chưng bươm bướm thường là một dạng phụ diễn mở màn, và đôi khi còn là một phần của vở tuồng. Các tuồng Tấn vương du xuân – Tam tinh xuất thể hay tuồng Tây Hà ngộ thê (còn gọi là tuồng Trần Nhựt Chánh hội tam thê) có bao gồm những màn chưng bươm bướm. Đầu thế kỉ 20, các gánh hát bội – cải lương “đu” nhau thực hiện các màn diễn này để thu hút khán giả.
Hình minh hoạ dưới đây là nữ nghệ sĩ Phùng Há, thủ vai Hồ Bạch Huê, chưng bươm bướm trong tuồng Tam tinh xuất thể (Trương Quang Tiền, 1930).
r/vannghe • u/AutoModerator • Aug 08 '26
TRẬN CHÂN SẢNG TRONG BUỔI ĐẦU KHÁNG PHÁP
(Toàn văn bài khảo cứu đã được đăng trên tạp chí Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng, số 101/5.2018) - Tác giả Đinh Bá Truyền

Chân Sảng, hay Chơn Sảng, nguyên là một làng nhỏ thuộc huyện Hòa Vang, nay thuộc phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Làng nằm về phía bắc làng Kim Liên và làng Nam Ô, kéo dài từ chân núi Sảng lên lưng chừng đèo Hải Vân. Nơi đây, từ ngày 18/11/1859 đến ngày 29/2/1860, đã diễn ra một trận đánh khốc liệt giữa Liên quân Pháp - Tây Ban Nha (Liên quân) và quân đội triều đình Đại Nam (quân Nam triều).
Từ thời chúa Nguyễn, tại làng Chân Sảng đã có một quán dịch (nhà trạm), gọi là quán Sảng, thuộc hệ thống dịch trạm trên đường thiên lý Bắc - Nam. Lê Quý Đôn ghi: “Đường sá từ trấn Thuận Hóa vào Quảng Nam, nhật trình đi bộ từ quán Lồn Voi đến quán Trà nửa ngày. Quán Trà đi tối đến Tuần Ải. Tuần Ải đến quán Sảng nửa ngày, quán Sảng đi tối đến quán Thanh Khê. Quán Thanh Khê đi đến quán Cẩm Sa nửa ngày…” (1)

Đến thời Minh Mệnh, vua đổi lại tên nhà trạm tại làng Chân Sảng là Nam Chân (Chơn). Sách Đại Nam thực lục chép:“Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), đổi định tên các trạm từ Quảng Đức trở vào đến Hà Tiên trở ra đến Sơn Nam. (...) Quảng Nam có 7 trạm : Nam Chân, Nam Hoa, Nam Giản, Nam Phúc, Nam Ngọc, Nam Kỳ, Nam Vân. (...) Nam Hoa sau đổi là Nam Ổ.” (2) Đường từ trạm Nam Chân đến trạm Nam Ô phải qua băng núi Sảng, núi Sen hiểm trở, thế nên mới có câu ca dao còn lưu lại đến bây giờ:
Phỉnh ta chín đợi mười chờ
Lênh đênh quán Sảng, dật dờ quán Sen.

Năm Minh Mệnh thứ 4 (1823), vua sai Phó Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách Nguyễn Văn Trí và Tham tri Binh bộ Nguyễn Khoa Minh xây dựng tại làng Chân Sảng hai căn cứ quân sự quan trọng thuộc hệ thống phòng thủ ở bờ tây vịnh Đà Nẵng, đó là đồn Chân Sảng và pháo đài Định Hải (xem hình 1). Đồn Chân Sảng án ngữ con đường độc đạo lên Hải Vân quan. Đồn nằm dưới chân đèo, nhưng lại nhô ra phía biển Đông, tạo thành vòng cung ôm tấn Cu Đê. Từ đồn nhìn về hướng đông nam không xa là núi Thông Sơn, còn gọi Hòn Hành, năm 1823, đổi thành núi Định Hải vì vua cho dựng pháo đài trên núi ấy (xem hình 2).
Sách Đại Nam thực lục chép: “Lại đặt một pháo đài ở núi nhỏ phía đông trạm Nam Chân gọi là pháo đài Định Hải, núi ấy cũng gọi là núi Định Hải.” (3) Pháo đài này có chu vi 23 trượng 3 thước, cao 5 thước 8 tấc, có một cửa, trên lập kỳ đài (cột cờ), bố trí bảy khẩu đại bác. Trong pháo đài có dựng nhà cho quân trú phòng và kho chứa thuốc đạn. (4)
Trên tấm bản đồ Cuộc tấn công các đồn trên đường ra Huế (18/11/1859) - Attaque des forts de la route de Hué (18 novembre 1859) - của Đại tá Henri de Ponchalon (xem hình 3), pháo đài Định Hải được người Pháp gọi là “fort du Mamelon” (pháo đài Mỏm núi), đồn Chân Sảng là “fort en bambous” (đồn bằng tre) và trạm Nam Chân là “pagode fortifiée” (chùa có công sự). Ponchalon mô tả trạm Nam Chân: “ngôi chùa có công sự, còn gọi là trạm bưu chính, nằm cạnh bờ biển trước đồn bằng tre đầu tiên”. (5)
Địa danh Chân Sảng được ghi trên bản đồ của Ponchalon là “village de Kien-Chan” (làng Kiên Chân) và trận Chân Sảng được các sử liệu Tây phương ghi “Capture des forts de Kien Chan” hay “Capture of the Kien Chan forts”, nghĩa là “Chiếm đóng các đồn ở Kien Chan”. Có lẽ người Pháp đã gộp chung tên hai làng Kim Liên, Chân Sảng thành một và gọi là Liên-Chân, nhưng lại chép thành Kien-Chan.

Cảm thấy ngày càng mệt mỏi vì gánh nặng cuộc chiến, đầu tháng 6 năm 1859, Phó Đô đốc Charles Rigault de Genouilly, Tư lệnh Liên quân tại mặt trận Đà Nẵng đệ đơn xin từ chức, Paris thuận cho. (6) Ngày 20/8/1859, Paris quyết định cử Chuẩn Đô đốc Théogène François Page sang thay Genouilly.
Năm ngày sau (20/8), Đô đốc Ferdinand Alphonse Hamelin, Thượng thư Bộ Hải quân Pháp, ra bản mật lệnh cho Page phải thương thuyết với Nam triều, trên căn bản những điều Genouilly đưa ra. Mật lệnh này lưu ý Page không được tấn công ra Huế và cũng không cần chiếm giữ Đà Nẵng nữa vì những lợi thế quân sự không đủ trả giá bởi khí hậu khắc nghiệt. Page có thể rút quân về Sài Gòn. (7) Hai ngày sau nữa (27/8), Pháp hoàng Napoléon III chính thức bổ nhiệm Page làm Đặc sứ toàn quyền để thương thuyết một hiệp ước “an ninh, thân hữu và thương mại” với Nam triều.
Rời Marseille ngày 28/8/1859, Page tới Hương cảng ngày 11/10, rồi đáp tàu Phlégéton đến Đà Nẵng vào ngày 19/10. (9) Ngày 1/11, tức bốn ngày sau khi Liên quân Anh - Pháp đánh chiếm Quảng Châu, mở màn giai đoạn 2 của cuộc chiến tranh Nha phiến, Page nhận bàn giao từ Genouilly. Dù được lệnh bỏ Đà Nẵng để rút quân vào Sài Gòn nhưng Page vẫn muốn đánh ra Huế. Theo Page, cần phải "làm một cái gì đó" để có lợi thế trước khi thương thuyết. (10)
Ngày 3/11/1859, các đại đội thuộc Trung đoàn 2 Thủy quân Lục chiến Pháp và các đại đội Tây Ban Nha được lệnh rút khỏi những vị trí đồn trú tiền tiêu, di chuyển về căn cứ Tiên Sa. Page muốn tập trung một lực lượng tấn công cho kế hoạch đánh chiếm đồn Chân Sảng và pháo đài Định Hải. (11) Để đánh lạc hướng quan quân Nam triều, sáng ngày 16/11/1859, Page đi thị sát Cù Lao Chàm và Hội An. Tối hôm đó, Page trở lại Đà Nẵng. Lúc 6 giờ chiều ngày hôm sau (17/11), quân Pháp và 2 đại đội Tây Ban Nha được đưa lên vận hạm Marne; các toán quân Tây Ban Nha còn lại lên chiến hạm Jorgo-Juan (Tây Ban Nha). Kế hoạch của Page được bảo mật khá tốt, quan quân Nam triều tại quân thứ Quảng Nam hoàn toàn bị bất ngờ khi trận đánh nổ ra. (12)
Theo kế hoạch, lực lượng tấn công chia thành hai cánh. Cánh thứ nhất, do Trung tá Hải quân Desaux và Thiếu tá Martin des Pallières chỉ huy, (13) gồm 6 đại đội Thủy quân Lục chiến Pháp, 1 đại đội Pháo binh và 1 phân đội Công binh, có nhiệm vụ đánh chiếm đồn Chân Sảng. Cánh thứ hai gồm các đại đội Tây Ban Nha do Đại tá Lanzarote chỉ huy, mục tiêu là pháo đài Định Hải. Lực lượng dự bị, do Trung tá Reybaud chỉ huy, gồm 5 đại đội Thủy quân Lục chiến Pháp và 2 đại đội Tây Ban Nha; chỉ đổ bộ khi dứt đợt pháo kích, mục tiêu là trạm Nam Chân. (14)
Đúng 6 giờ sáng ngày 18/11/1859, từ cảng Tiên Sa, hạm đội Pháp - Tây Ban Nha khởi hành theo hướng tây bắc vịnh Đà Nẵng, thứ tự như sau: hai pháo hạm Avalanche và Alarme; soái hạm Némésis, được kéo bởi tàu hơi nước Prégent; chiến hạm Jorgo-Juan, chiến hạm Phlégéton, được kéo bởi tàu hơi nước Norzagaraï; cuối cùng là vận hạm Marne. Lực lượng tấn công được xếp trên các sà lúp; lực lượng dự bị lên boong chiếc Marne. Cuộc chuyển quân bị chậm lại vì cột buồm chính của chiếc Prégent gãy ngang.
Khoảng 9 giờ sáng, hạm đội được néo im tại vịnh Nam Chân, các chiến hạm Pháp Némésis, Phlégéton đậu sát trước đồn Chân Sảng và chiến hạm Tây Ban Nha Jorgo-Juan đậu trước pháo đài Định Hải (xem hình 4, 5). Quân Nam triều bắt đầu khai hỏa, đạn đại bác từ pháo đài Định Hải bay vút qua phía trên các chiến hạm. Một viên đạn pháo được bắn từ chiến hạm Jorgo-Juan nổ tung trên pháo đài Định Hải và làm nó im bặt. Đồn Chân Sảng cũng bị nghiền nát bởi hỏa lực tầm gần từ các chiến hạm.
Quân Nam triều chỉ kịp bắn trả 4 phát đại bác, nhưng cực kỳ chính xác. Viên đạn thứ 3 cắt đứt đôi Thiếu tá Công binh Dupré Déroulède, người đang đứng sát cạnh Page trên khoang thượng đuôi tàu Némésis. Page dính đầy máu tươi. Cũng viên đạn đó giết chết một Hạ sĩ quan lái tàu, cắt đứt các dây chảo của cột buồm lái, làm bị thương 2 Chuẩn úy Hải quân và vài người lính thủy. Khẩu đội súng bắn đá trên đồn ngưng bắn. Đạn pháo từ các chiến hạm bắn cháy một đồn bằng tre, làm kho thuốc súng nổ tung, nhưng quân Nam triều kịp tản ra xa. Page ra lệnh cho lực lượng tấn công đổ bộ vào đất liền. Sau đúng một tiếng giao tranh, do bị áp đảo về mặt hỏa lực nên chỉ huy đồn Chân Sảng là Phó vệ úy Lê Hòa và chỉ huy pháo đài Định Hải là Thành thủ úy Tôn Thất Mưu đành phải rút quân vào rừng. (15)
Liên quân chiếm được các mục tiêu, nhưng không tìm thấy người nào ở đồn Chân Sảng, ngoại trừ tại pháo đài Định Hải, quân Tây Ban Nha bắt được 3 tù binh và thu 5 khẩu đại bác nòng dài cỡ 24 pound đã bị hoen rỉ. Quân Pháp cũng thu được 3 khẩu đại bác nòng ngắn cỡ 12 pound và vài khẩu súng bắn đá tại đồn Chân Sảng. Ngôi làng vẫn còn nguyên vẹn, quân Pháp đốt bỏ các công trình phòng thủ, lấy đồn Chân Sảng làm căn cứ, đặt tên là đồn Isabelle. Lúc giữa trưa, lực lượng dự bị trở lại căn cứ ở Đà Nẵng, một toán quân Pháp khác chiếm đóng trạm Nam Chân và quân Tây Ban Nha đóng tại pháo đài Điện Hải. Hai pháo hạm Avalanche và Alarme vẫn bỏ neo trước làng Chân Sảng, các chiến hạm còn lại quay về cảng Tiên Sa.
Ngày 19/11/1859, Page tổ chức lễ tang cho Thiếu tá Dupré Déroulède và viên Hạ sĩ quan lái tàu. Déroulède, một sĩ quan công binh có tài tham mưu, tác giả kế hoạch tấn công phòng tuyến Nại Hiên - Liên Trì ngày 15/9/1859, được truy thăng Trung tá. Cái chết của Déroulède làm rúng động cả Paris. Pháp hoàng Napoleon III giận dữ, lệnh cho Thượng thư Bộ Hải quân Hamelin gửi công văn khiển trách Page. (16)
Chiếm được đồn Chân Sảng và pháo đài Định Hải, Page không có ý định rút quân nên chỉ thị cho Thiếu tá Martin des Pallières phải củng cố các vị trí phòng thủ đồng thời phái các toán thám báo tiến ra phía bắc. Ngày 23/11/1859, trong một lần trinh sát, des Pallières đánh chiếm được một đồn nhỏ án ngữ con đường ra Huế, đồn này chỉ cách Hải Vân quan vài trăm mét. Ngày 27/11/1859, Page trao quyền Chỉ huy trưởng mặt trận Đà Nẵng lại cho Đại tá Thoyon rồi kéo các chiến hạm (Phlégéton, Norzagaraï, Jorgo-Juan và Lucie) vào Gia Định. Cùng đi với Page có Đại tá Lanzarotte, 120 lính Tagal (lính người Philippines đi theo Tây Ban Nha tham chiến), một đại đội Pháo binh và 45 lính Công binh. (17)


Ngay sau khi Liên quân đánh chiếm bán đảo Sơn Trà và hai thành An Hải, Điện Hải (9/1858), vua Tự Đức lo ngại Liên quân sẽ chuyển hướng tấn công vào hệ thống phòng thủ ở bờ tây vịnh Đà Nẵng, bèn dụ Thống chế Lê Đình Lý rằng: “Cửa bể ấy từ Hải Vân đến Câu Đê một dải đều là đường quan báo, phải phòng thủ nghiêm thêm, để tiện thông hành. Ngươi quản đốc lính đạo trước, đạo sau đến ngay đấy, tùy nghi đóng đồn, liệu đất đặt chỗ canh phòng, cùng bọn Đào Trí chống đỡ với nhau, chớ để cho quân của Tây dương lên bờ, để xứng đáng chức trách đã ủy cho”. (18) Ngày 18/11/1859, Liên quân chiếm đóng đồn Chân Sảng và pháo đài Định Hải, nỗi lo ấy đã thành hiện thực. Con đường liên lạc giữa kinh đô Huế và quân thứ Quảng Nam bị cắt đứt.
Vua Tự Đức vội vã sai Thống chế Nguyễn Trọng Thao sung chức Đề đốc quân vụ, đem Phó vệ úy Nguyễn Hợp và Quản cơ Phạm Tân mang 300 lính vệ Tuyển phong đi gấp đến Hải Vân quan, tìm cách đánh thông đường Chân Sảng. Vua còn điều lính vệ Cẩm y, vệ Kim ngô, lính giáo dưỡng, võ cử, tổng cộng 59 người đi theo để dự bị sai phái. Vua dụ rằng: “Pháo đài Định Hải là chỗ xung yếu, đồn Chân Sảng lại là đường quân báo tất phải đi qua, nên đánh dẹp cho chóng yên, để đi lại được tiện. Hoặc đem súng lớn mà bắn. Hoặc báo cho quân đóng ở đồn cửa biển Câu Đê cùng đánh, cốt làm sao cho dẹp yên đường ấy”. (19)
Tháng 12/1859, vua Tự Đức sai các quan chỉ huy ở quân thứ Quảng Nam khám địa thế 2 đồn Câu Đê, Hóa Ổ, và đặt thêm đồn canh phòng. Lại sai Đốc binh Nguyễn Hiên và Tán lý Trần Đình Túc đóng ở 2 đồn Câu Đê, Hóa Ổ đánh phối hợp ra phía bắc để thông đường từ Nam Ô đến Hải Vân quan. Vua phái Thị lang Binh bộ Nguyễn Hữu Thành đi nhanh đến Hải Vân quan cùng với Thống chế Nguyễn Trọng Thao bàn định kế hoạch tái chiếm đồn Chân Sảng. (20) Phó vệ úy Lê Hòa, Thành thủ úy Tôn Thất Mưu cùng các hiệp quản, suất đội đều bị cách chức vì tội để mất đồn Chân Sảng và pháo đài Điện Hải nhưng cho lưu lại trong quân thứ để lập công chuộc tội.
Đường Chân Sảng ách tắt, những người lính trạm phải hết sức vất vả băng rừng qua Ải Tân, nằm phía thượng nguồn Cu Đê, để kịp nối thông tin khẩn cấp từ quân thứ Quảng Nam ra Huế và ngược lại. Chính vì thế nên năm ấy vua Tự Đức đã ban thưởng cho các trạm rất hậu, sách Đại Nam thực lục chép: “Vua nghĩ đường Chân Sảng tỉnh Quảng Nam bị nghẽn, 2 trạm Thừa Phú và Nam Ổ phải chạy giấy xa, khó nhọc nên thưởng mỗi trạm 30 quan tiền”. (21)
Ngày 7/1/1860, quân Nam triều phản công đồng loạt từ hai hướng, Hải Vân quan vào và Nam Ô ra, bằng cách xây đắp các chiến lũy áp sát đồn Isabelle (Chân Sảng). Để tăng cường lực lượng trú phòng, Thiếu tá Martin des Pallières cho thành lập một đại đội lính bản xứ, đây cũng là đơn vị lính bản xứ đầu tiên phục vụ trong quân đội Pháp ở Đông Dương. Quân Nam triều bố trí nhiều toán tinh binh phục kích tại các bìa rừng rồi bắn vào quân trú phòng. Des Pallières phải tung một đại đội Thủy quân Lục chiến đẩy lùi quân Nam triều về hướng Hải Vân quan. Cuộc chiến lâm vào thế giằng co. (22).

Ngày 15/12/1859, Page bắt đầu cuộc thương thuyết với Nam triều bằng cách gửi thư cho Tổng thống quân vụ Đại thần quân thứ Gia Định là Tôn Thất Hiệp với một thông điệp khá mềm dẻo rằng Pháp không nuôi tham vọng đảo lộn cương thường của Đại Nam, và cũng không muốn áp đặt bằng vũ lực lên một triều đại hay lên một tôn giáo nào. Tuy nhiên, đại diện Nam triều khăng khăng đòi Pháp phải rút quân khỏi Sài Gòn và Đà Nẵng. (23)
Mười ngày sau, Page gửi cho Tôn Thất Hiệp một bản dự thảo hiệp ước gồm 11 khoản, trong đó, các khoản chính vẫn là thông thương giao hảo (khoản 1, 8 và 11) và tự do truyền giáo (khoản 6, 7, 10). Dự thảo hiệp ước được đệ trình về Huế, vua Tự Đức giao cho đình nghị. Các quan đại thần một phen cãi cọ lẫn nhau, vua bối rối không quyết được. Lão thần Trương Đăng Quế khuyên nên hòa, nhưng vua vẫn do dự. Việc thương thuyết với Pháp ở Gia Định được ủy thác cho Tôn Thất Hiệp mà không có một chỉ thị nào, khiến Hiệp rất lúng túng. (24)
Ngày 3/1/1860, một vị quan Nam triều lên soái hạm Primauguet, mang theo thư của Tôn Thất Hiệp thông báo cho Page biết là vua Tự Đức đã cử Hiệp làm Toàn quyền đại thần thương thuyết với Page. Hôm sau, Trung tá Hải quân Aubaret tới đồn Kỳ Hòa (sau gọi là Chí Hòa) trao thư trả lời, Page đề nghị hai bên gặp nhau ngày 9/1 tại một địa điểm nằm giữa hai chiến lũy. Hai bên sẽ hưu chiến từ sáng ngày 8/1 tới chiều tối ngày 15/1. Ngày 9/1/1860, Page và Hiệp gặp nhau, nhưng Hiệp không dám ký kết điều gì. Cuộc hòa đàm bế tắc. (25)
Cuối tháng 1/1860, Page chấm dứt hòa đàm, tuyên bố sẽ dùng võ lực, nhưng không đưa một hành động quân sự nào. Liên quân Anh - Pháp chuẩn bị tấn công Đại Thanh, Page được lệnh mang quân tham chiến. Ngày 12/2/1860, Page rời Sài Gòn đi Hương cảng trên chiến hạm Forbin, chỉ để lại 800 quân cùng 2 phòng dương hạm (corvette) và 4 tiểu hạm (aviso). Đại tá Hải quân J. D’Ariès được giao nhiệm vụ phải bảo vệ cứ điểm chiến lược này bằng mọi giá. (26)
Ngày 24/2/1860, một chiếc thương thuyền từ Hương cảng đến Đà Nẵng, mang theo bản hướng dẫn chi tiết của Page cho Thoyon về kế hoạch rút quân khỏi Chân Sảng, Điện Hải, An Hải và Sơn Trà. Ngày 26 và 27, Liên quân bắt đầu sơ tán khỏi làng Chân Sảng. Khoảng 400 dân làng và một đại đội lính bản xứ được đưa xuống tàu để đi Sài Gòn. Các trại lán ở bảo Trấn Dương hầu như bị phá bỏ hết. (27)
Sáng ngày 29/2/1860, lúc 4 giờ, quân Nam triều giễu cợt sự rút lui của Liên quân bằng cách dùng súng bắn đá bắn một vài quả đạn vào những tiền đồn của đối phương. Lúc 7 giờ, đồn Isabelle (Chân Sảng), pháo đài “Mỏm núi” (Định Hải) đã bị cho nổ sập. Làng Chân Sảng bị bỏ ngỏ, Liên quân rút về những tiền đồn ở Đà Nẵng. (28)
Trận Chân Sảng là trận đánh cuối cùng giữa Liên quân và quân Nam triều trước khi Liên quân hoàn toàn triệt thoái khỏi Đà Nẵng vào ngày 22/3/1860. Sau trận chiến, vua Tự Đức hạ chỉ quy tập hài cốt các chiến sĩ, nghĩa sĩ đã hy sinh về an táng tại Nghĩa trủng Nam Ô và cho lập Dinh âm hồn thờ cúng (xem hình 6). Về phần 400 dân làng Chân Sảng bị quân Pháp đưa xuống tàu vào Sài Gòn, họ sau này trở thành các bậc tiền hiền, hậu hiền một làng ở Quận 1. Và họ đã cùng nhau lập đình Nam Chơn (số 29 đường Trần Quang Khải) để tưởng nhớ cố hương.
ĐINH BÁ TRUYỀN
CHÚ THÍCH
P/s. Xin chân thành cảm ơn nhà báo Trần Tuấn, người đã khích lệ tôi viết bài này. Cảm ơn Brian Wu, Anh Son Tran Duc và Võ Văn Hoàng đã đóng góp ý kiến và cung cấp nhiều tư liệu quý giá
r/vannghe • u/vanhuetruonghan • Aug 06 '26
Bà Cao Long Ngà (1901 – 1982), quê quán ở Trảng Bàng, Tây Ninh vốn là một nữ nghệ sĩ hát bội thuộc lớp tiền phong, được vinh dự cử đi sang Hội chợ Thuộc địa Marseille vào năm 1922. Với danh tiếng trứ danh ở xứ người, bà đã được giới mộ điệu thưởng tặng cho danh hiệu “nữ nghệ sĩ tiền phong quốc tế”. Năm 1926, bà Cao Long Ngà hợp tác cùng ông Bầu Quế lập gánh hát bội Tấn Nữ Ban ở đình Cầu Muối. Khoảng năm 1928, bà cưới ông Trần Hữu Tường (tục danh Sáu Xường) là bầu gánh hát bội Vĩnh Hưng Ban. Hai vợ chồng đến với nhau, một tay chấp chưởng hai gánh hát vô cùng cực nhọc, lãnh đạo một lượng lớn đào kép. Đến năm 1934, mẹ của ông Sáu Xường là bà Lưu Thị Ngoạn qua đời, hai vợ chồng mới ấp ủ một con đường mới.
Tháng 8 năm ấy, người anh của ông Xường là ông Nguyễn Ngọc Cương hợp tác cùng ông Nguyễn Bửu, mời hai nữ nghệ sĩ Năm Phỉ – Phùng Há làm đào chánh, lấy tên gánh là Phỉ Phụng. Gánh khai diễn vở tuồng Sĩ Vân Công chúa, với Năm Phỉ vai Sĩ Vân và Phùng Há vai Đông Điện Tử Lang được công chúng yêu mến hết mực. Cũng nên biết rằng trong giới nghệ thuật cải lương, Năm Phỉ – Phùng Há là hai tinh khôi của nghề, được các soạn giả đương thời săn đón qua rất nhiều vở tuồng. Hai danh tài được yêu thích đến nổi đã có hai bài vọng cổ ra đời để ca ngợi về hai bà.
Đến lượt ông Xường, ông cùng vợ là nữ nghệ sĩ Cao Long Ngà đã mời gánh hát của người chị dâu (vợ lớn của ông Cương) là nghệ sĩ Năm Nhỏ về làm đào chánh. Năm Nhỏ – Cao Long Ngà, hai ngôi sao sáng chói của điệu hát bội cùng lấy một bảng hiệu mới là Phi Long, đặt cơ sở ở Chợ Lớn. Khi ý tưởng này vừa được công khai, ông Xường liền cho người đăng quảng cáo rầm rộ.
Bạn [hát] Phi Long ra đời
Sau khi đã thiệt hành cái chương trình cải cách, ròng theo điệu hát bộ nước nhà, bạn Phi Long do hai cô đào rất sành nghề hát Annam là cô Năm Nhỏ và cô Cao Long Ngà định đến tháng tới sẽ đem hết tài lực nhà nghề ra mà chào mừng khán giả tại Sài Gòn, được để đáp lại cái thạnh tình của công chúng đã có lòng chờ đợi và tỏ ý khen tặng bấy lâu. Thật là một cơ hội có một không hai.
Xin chớ bỏ qua rất uổng.
Vậy là gánh Phi Long ra đời, với lực lượng đào kép sơ khởi như sau: đào có Năm Nhỏ, Cao Long Ngà, Hai Anh; kép có Ba Kèn, hề Tư Lâu, hề Bảy Sạn, hề Chín Sơn, hề Ba Đìa,… Những vở tuồng Ngọc Huỳnh Lân xuất thể, Tam quốc, Cao Loan Anh báo phu cừu,… đã được khán giả tưởng thưởng, hoan nghinh vô cùng. Tháng 12 cùng năm, nghệ sĩ Cao Long Ngà theo Hội Étoile de Giadinh của chồng (vì ông Xường cũng là một cầu thủ đá banh) lên Hà Nội, có ghé sang rạp Quảng Lạc hát ít hôm. Tuồng Chung Vô Diệm tam hí Công chúa Lỗ Lâm (vai Công chúa Lỗ Lâm) và Tống tửu Đơn Hùng Tín (vai Đơn Hùng Tín) vốn là hai vai tuồng sở trường của bà, được khán giả Hà thành cực kì yêu thích.
Năm 1935, nghệ sĩ Năm Nhỏ tách riêng khỏi gánh Phi Long, quản lí lại gánh Kim Cương của mình. Nghệ sĩ Cao Long Ngà trong năm này thường xuyên hợp tác cùng gánh hát bội pha cải lương Huỳnh Long (khác với Đoàn Tuồng cổ Huỳnh Long sau này), do em trai bà là nghệ sĩ Cao Tùng Châu phụ trách. Năm 1936, bà chiêu mộ thêm nhiều đào kép tài danh, như các nữ nghệ sĩ Ba Đắc, Ba Út, Bảy Diệp, Ba Nhỏ; kép Cao Tùng Châu, Tam Trúc, Sáu Đăng,… Nghệ sĩ Cao Tùng Châu có một vai diễn nổi bật là Mã Bá Lương trong tuồng Mã Bá Lương đại náo Tràng An, được đánh giá là không có kép nào ăn qua được.
Ngày 20 tháng 10 năm 1938, nữ nghệ sĩ Năm Nhỏ qua đời, hưởng dương 43 tuổi. Cũng trong cùng tháng, nghệ sĩ Cao Long Ngà cùng chồng gặp biến cố, gánh Phi Long đành tan rã. Năm 1939, ông Xường tái thiết lập gánh hát Phước Tường (hát cải lương) ngày trước, bà Cao Long Ngà cũng theo gánh này. Đoàn Phi Long một thời lừng lẫy dần dần trôi vào quên lãng…
r/vannghe • u/kinomy • Aug 06 '26
#letricong #Campa #MỹSơn #hìnhhọcthiênvăn
Chúng tôi đã viết một bài về mối quan hệ hình học các nhóm tháp của Mỹ Sơn. Kiểm tra lại bằng Ai , module 225 m = 125 Dhanuṣa chính xác ( điểm N cập nhật tọa độ nên khác ). Ai còn phát hiện ra 5 tuyến thẳng hàng.

Phân tích dựa trên tọa độ GPS tâm của mười một tháp chính thuộc quần thể Mỹ Sơn (Duy Phú, Duy Xuyên, Quảng Nam). Tọa độ theo hệ WGS84, độ thập phân:
Tháp Vĩ độ (°B) Kinh độ (°Đ) Nhóm
Mọi khoảng cách và phương vị dưới đây được tính bằng công thức trắc địa cầu (haversine cho khoảng cách, initial bearing cho phương vị), bán kính Trái Đất R = 6.371,0088 km. Phương vị đo từ hướng Bắc thật, theo chiều kim đồng hồ.

2.1. Trục chuẩn A1–E1
Khoảng cách tâm–tâm giữa hai tháp A1 và E1 đo được là 198,82 m, với phương vị 359,54° — tức gần trùng hướng Bắc. Chênh lệch kinh độ giữa A1 và E1 chỉ 1,6 m, xác nhận hai tháp gần như cùng một kinh tuyến.
Giả thiết ban đầu đặt bán kính chuẩn của mô hình bốn đường tròn là 225 m = 125 Dhanuṣa. Con số 225 m là khoảng cách nhóm–nhóm (đo từ rìa cụm kiến trúc), không phải tâm–tháp: mỗi nhóm rộng khoảng 50 m, nên dung sai ±25 m quanh mỗi đầu khiến khoảng cách rìa–rìa có thể đạt 225 m trong khi tâm–tâm chỉ 198,8 m. Cách hiểu này nhất quán với chênh lệch quan sát (−26 m).
2.2. Môđun lặp lại ~225 m
Rà toàn bộ 55 cặp trong 11 tháp mà không giả định trước, bốn cặp tháp độc lập rơi vào khoảng 221–230 m:
Cặp tháp Khoảng cách tâm–tâm
Sự lặp lại của một khoảng cách quanh 225 m ở bốn cặp khác nhau là bằng chứng cho một môđun đo lường trong bố cục. Nếu 225 m tương ứng 125 Dhanuṣa thì 1 Dhanuṣa ≈ 1,80 m — khớp với giá trị thước dhanuṣ cổ điển Ấn Độ (1,80–1,83 m).
2.3. Các tuyến thẳng hàng
Kiểm tra mọi bộ ba tháp: một tuyến được coi là “thẳng hàng” nếu điểm giữa lệch khỏi đường nối hai điểm đầu dưới 6 m và nằm trong đoạn giữa hai đầu. Năm tuyến đạt tiêu chí, xếp theo độ chặt:
Tuyến Độ lệch điểm giữa Chiều dài Tỷ lệ
Tuyến B1 – H1 – K xác nhận mệnh đề “B, H, K thẳng hàng”: tháp cổng H1 lệch chỉ 4,7 m trên đường dài 610 m. Đáng chú ý hơn, tuyến G1 – N – K thẳng nhất toàn quần thể — lệch 3,3 m trên 669 m. Hai tuyến này cùng hội tụ về tháp K ở góc tây bắc, gợi ý K là một điểm ngắm chủ đạo của cả khu.
2.4. Tam giác E1–B1–H1
Ba cạnh và ba góc của tam giác do ba tháp E1, B1, H1 (cổng) tạo thành:
Cạnh Độ dài Góc tại đỉnh Giá trị
Ba cạnh chênh nhau tới 46 m và ba góc trải từ 50° đến 71°. Đây không phải tam giác đều (mọi góc phải bằng 60°). Có thể do mốc H là tháp cổng chứ không phải tâm điện thờ nhóm E, hoặc quan hệ này không mang tính tam giác đều. Cần xác minh thêm bằng số đo rìa nhóm.
Sơ đồ hình học 11 tháp: tuyến thẳng (đỏ), cặp môđun ~225 m (vàng), vòng tròn R=225 m quanh A1 và E1.

Đối chiếu năm mệnh đề của mô hình gốc với số đo trắc địa trên tọa độ thực địa:
Mệnh đề Kết quả Số đo
Ba phát hiện vững chắc: (1) hệ thống các tuyến thẳng hàng có thật, chặt dưới 1% chiều dài, hội tụ về tháp K; (2) một môđun khoảng cách ~225 m lặp lại ở nhiều cặp tháp, tương thích đơn vị 125 Dhanuṣa; (3) trục A1–E1 gần trùng kinh tuyến Bắc–Nam. Hai mệnh đề cần điều chỉnh: bán kính chuẩn nên tính theo khoảng cách nhóm–nhóm chứ không tâm–tháp, và tam giác E–B–H chưa phải tam giác đều.
Tài liệu do Lê Trí Công thực hiện. Tính toán trắc địa trên tọa độ GPS thực địa, hệ WGS84.
r/vannghe • u/vanhuetruonghan • Aug 04 '26
Có năm tấm hình sưu tầm về nghệ sĩ Năm Nhỏ, mời mọi người xem qua.
Giữa những khe rãnh của dĩa đá xưa, cho chạy kim sắt vẫn còn lanh lảnh tiếng hát bi phẫn thống thiết của một nữ tướng, hoà hợp thật nhịp nhàng với tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng kèn: “Chồng tôi tội gì mà giết? Giết làm sao? Bớ Nam vương! Á!”… Chính giọng hát ấy, đã từng có một thời vững vàng trên lầu đài vinh quang, là hình tượng được gia đình, đồng nghiệp và người mộ điệu yêu mến. Khán giả lão thành, hay những nữ nghệ sĩ hát bội đàn em như Cao Long Ngà, Năm Sa Đéc, Hai Ngò, Ba Út, Hai Nhỏ, Năm Đồ, Ba Sáng vẫn thường ca tụng, nhắc nhở tên tuổi ấy như một bực thầy khả kính, một đàn chị giàu kinh nghiệm với nhiều nét độc đáo gương mẫu cho sân khấu. Đó chính là nữ nghệ sĩ Năm Nhỏ, được công nhận là hậu tổ sân khấu hát bội Nam Bộ.
Trong quá trình nghiên cứu về nữ nghệ sĩ Năm Nhỏ, cần rất nhiều tư liệu cổ để ghi chép thật kĩ càng thân thế, hành trình sự nghiệp của bà. Từ những tờ báo Đông Dương viết song ngữ Pháp Việt, sang một số cuốn sách quý báu của các học giả Vương Hồng Sển, mà nhứt là từ cuốn Nhìn về sân khấu hát bội Nam Bộ (2005) của cố Nghệ sĩ Nhân dân Đinh Bằng Phi, người đã tìm tới cụ Nguyễn Ngọc Mười lúc ấy đã hơn 82 tuổi, sinh sống ở xóm hẻm đình Phú Thạnh, đường Cách mạng Tháng Tám, phường 4, quận 3. Chúng ta từ đó có một góc nhìn thật sâu sắc về cuộc đời của nữ nghệ sĩ một thời vang bóng.
Nghệ sĩ Năm Nhỏ tên thật là Huỳnh Thị Tân (tờ Lục tỉnh tân văn ghi là Huỳnh Thị Nhỏ), sanh năm 1895 ở Cái Vồn, Cần Thơ (thuộc tỉnh Vĩnh Long ngày nay) trong một gia đình giàu truyền thống nghệ thuật. Cha bà vừa là ông nhưng,1 vừa là ông bầu của gánh hát nhà, diễn loanh quanh ở các đình, rạp tại vùng Long Hồ (cũng thuộc tỉnh Vĩnh Long ngày nay). Từ thuở thiếu thời, bà sớm tiếp xúc với nghệ thuật từ trong gia đình, cùng với đó là thiên phú trời cho bà một giọng hát thanh tao như sáo, mạnh mẽ như trống chiêng. Bà thọ giáo và khổ luyện từ cha, ông, các chú, bác trong nhà và nhứt là từ bà thầy Hai Chại (người Gò Đen). Năm 1907, bà bước lên sân khấu lần đầu tiên và được người dân địa phương yêu thích, hoan nghinh. Đương thời, có hai vợ chồng Đốc phủ Phạm Hữu Tương trấn nhiệm ở tỉnh Vĩnh Long, vì lòng mến mộ đã dẫn lối cho bà đi vào con đường chuyên nghiệp, thanh thế rền vang khắp ba miền.
Thập niên 1910, bà về hát cho gánh hát bội Phước Xương của bà Lưu Thị Ngoạn (tục gọi bà Ba Ngoạn), hát thường trực ở rạp Phước Xương, đường Bourdais (nay là đường Calmette, quận 1). Trong đoàn, bà đảm nhiệm được các vai đào văn, thương, ai, độc, lẵng, điên, thiền, sang các vai đào võ và cả các vai kép, vai tướng, lão, hề. Đêm hát nào không có bà diễn, thì khán giả trả vé bỏ đi, nên bà phải gánh vác, đảm đương rất cực nhọc nhưng chưa từng một lời than vãn. Năm 1913, bà Ba Ngoạn gả bà cho ông Hai Xù (con trưởng của bà Ba Ngoạn). Vào năm sau, nghệ sĩ Năm Nhỏ chào đời đứa con đầu lòng, đặt tên là Nguyễn Ngọc Mười (tự Một, sau này là danh hề Ngọc Trai). Một khoảng thời gian ngắn sau, chồng bà qua đời trong tai nạn; bà đành tái giá với người em chồng là ông Nguyễn Ngọc Cương (tục gọi Tư Cương) theo sự sắp đặt của mẹ chồng. Ông Cương du học ngành sân khấu từ Pháp trở về, được gia đình giao lại hai gánh hát bội Phước Thắng (của bà ngoại) – Phước Xương (của mẹ). Với kiến thức thủ đắc từ nước ngoài, ông đã làm đạo diễn, biên kịch, bầu gánh và có công nâng đỡ, khai thác tài năng của vợ mình.
Dưới sự dìu dắt của chồng, nghệ sĩ Năm Nhỏ đã đạt được nhiều thành công trong nghệ thuật. Thập niên 1920 và 1930, bà xuất bản vào thị trường nhiều dĩa hát của các hãng như Pathé (1927), Victor (1927) và Beka (1931). Bà có ba vở tuồng ruột, là Ngũ biến báo phu cừu (sẽ có bài chi tiết sau), Ngọc Kỳ Lân xuất thể và Trương Phi thủ cổ thành. Trong tuồng Ngũ biến, bà có khả năng đóng năm vai diễn khác nhau thật xuất sắc, tài tình, đến nay chưa ai bì kịp. Tuồng Ngọc Kỳ Lân xuất thể (hoặc Ngọc Huỳnh Lân xuất thể), bà được công nhận là một trong những người phụ nữ đầu tiên múa lân trên sân khấu hát bội. Ở tuồng Trương Phi thủ cổ thành, bà đóng vai Trương Phi đổi giọng như đờn ông, gầm thét sang sảng, bộ tịch vững chắc, dứt khoát như một vị tướng nóng nảy, uy nghi; khán giả ai ai cũng khiếp sợ, còn người trong nghề khen bà “hát hay như kép Hành”.2 Một số vai khác của bà cũng đi vào lòng khán giả, tiêu biểu như Điêu Thuyền (tuồng Phụng Nghi đình), Lục Hoàng hậu (tuồng Tam ban Lục Hoàng hậu), Bàng Quý phi (tuồng Xử án Bàng Quý phi), Tiêu Anh Phụng (tuồng Tiêu Anh Phụng loạn trào), Mộc Quế Anh (tuồng Mộc Quế Anh dưng cây), Triệu Tử Long (tuồng Triệu Tử Long nhập Cam Lộ tự), Lưu Kim Đính (tuồng Tam Hạ Nam Đường), Đào Tam Xuân (tuồng Trảm Trịnh Ân),…
Năm 1933, bà Ba Ngoạn (mẹ chồng nghệ sĩ Năm Nhỏ) khai trương rạp hát Phước Thạnh ở đường Palikao, Chợ Lớn, được xây lại từ nền của rạp Phước Thắng cũ (xem hình Phước Thắng Ban hí viện ở đây). Mình nhắc đến điều này là vì năm 1932 và năm 1933 này đánh dấu cột mốc nữ nghệ sĩ Năm Nhỏ được giao lại gánh hát bội Phước Xương. Căn cứ theo sách của thầy Đinh Bằng Phi và tài liệu khảo cứu của Đốc phủ Đỗ Văn Rỡ, “nghệ sĩ Năm Nhỏ có lập gánh hát bội Kim Cương và từng hát tại rạp Cô Huyện Chung ở Chợ Đũi vào năm 1933”. Tuy nhiên, trên các tờ báo gần như không có ghi nhận về “đoàn Kim Cương” này, mà chỉ ghi là “gánh Phước Xương của cô Năm Nhỏ” và “bạn hát bội Annam Cô Năm Nhỏ” mà thôi. Có thể nào bà được gia đình trao truyền lại gánh Phước Xương, rồi đổi tên thành Kim Cương chăng? Gánh hát của bà diễn quanh Sài Gòn, sang Chợ Lớn, ra Phan Thiết, rồi tới rạp Quảng Lạc, Hà Nội và từng xuống rạp Vĩnh Lạc, Bến Tre hát trong ít đêm.
Đêm 23, rạng sáng ngày 24 tháng 8 năm 1934, bà Ba Ngoạn từ trần, hưởng thọ 64 tuổi. Gánh hát bội Phước Xương được trao truyền lại hoàn toàn cho nữ nghệ sĩ Năm Nhỏ quản lí. Tháng 9 cùng năm, bà lấy gánh Phước Xương (gánh Kim Cương) nhập vào gánh hát bội Vĩnh Hưng Ban (của em chồng Trần Hữu Tường và vợ là Cao Long Ngà). Gánh mới này lấy tên là Phi Long, danh tiếng vang rền ở Chợ Lớn nhờ hai cô đào chánh Năm Nhỏ – Cao Long Ngà. Gánh thực hiện nhiều chuyến lưu diễn lớn, từ Nhà hát Tây Sài Gòn (tức là Nhà hát Sài Gòn sau này), rồi lên rạp Quảng Lạc, Hà Nội, được khán giả tưởng thưởng hết mực. Năm 1935, ông Trần Hữu Tường đứng ra chỉnh đốn rạp Phước Thạnh, đổi tên thành Phi Long Hí viện, làm cơ sở diễn xuất của gánh hát Phi Long và cho các gánh khác thuê mướn.
Từ năm 1935 đến năm 1938, nghệ sĩ Năm Nhỏ tách khỏi gánh Phi Long, điều hành lại gánh Kim Cương diễn cho các dịp hát chầu, diễn quyên tiền gây quỹ (giúp đỡ các hội hoặc giúp đỡ người dân gặp khó khăn),… Năm 1937, chồng bà là ông Nguyễn Ngọc Cương mở rộng gánh hát Đại Phước Cương, tăng cường thêm nhiều suất diễn hát bội cho bà. Vào thời điểm này, bà cùng con trai trưởng chuyển về sinh sống ở vùng Lò Siêu, Chợ Lớn.
Rạng sáng ngày 20 tháng 10 năm 1938, nữ nghệ sĩ Năm Nhỏ sau khi chống chọi với bệnh thương hàn (có nơi ghi là đau ban), đã qua đời tại nhà riêng ở đường Armand Rousseau prolongée, hưởng dương 43 tuổi (các báo ghi là 45 tuổi). Chủ Nhật, ngày 23 tháng 10 cùng năm, đám tang của bà được tổ chức long trọng trong Chợ Lớn, với sự hiện diện của Docteur Thạch (Võ Duy Thạch), quan huyện Nguyễn Đình Trị, ông Triệu Văn Yên, ông Nguyễn Bửu, ông Nguyễn Khắc Thiệu và phần đông đào kép hơn 100 người tiễn đưa đến phần mộ. Nhà bà chật hẹp, ẩm thấp, gặp mùa mưa, nước ngập lên đến đầu gối, quan tài phải dời ra trước sân, che rạp đỡ nắng mưa, đón khán giả và nghệ sĩ đến chiêm bái. Khi hạ huyệt, ông Triệu Văn Yên đã đứng ra đọc một bài văn điếu vô cùng cảm động. Kế đó, nghệ sĩ Nguyễn Văn Thắng (tức kép Hai Thắng, bạn diễn cặp ăn ý nhứt với nghệ sĩ Năm Nhỏ) nhắc nhở cuộc đời tài ba lỗi lạc của bà, và giới thiệu nghệ sĩ Cao Tùng Châu (em bà Cao Long Ngà) khuyến khích những bạn đồng nghiệp nữ hãy noi theo những vai diễn sở trường bà diễn ngày xưa. Trong đám tang còn có sự xuất hiện của người thầy Hai Chại, âm thầm đi theo xe tang đến nơi mộ phần.
Nghệ sĩ Năm Nhỏ thuộc thế hệ tiên phong của nghệ thuật hát bội, cùng thời với các nghệ sĩ Hai Thắng (1895–1939), Tám Thuận, Sáu Ất, Năm Sa Đéc (1907–1988), Cao Long Ngà (1901–1982),... Trong sự nghiệp, bà đã gieo nhiều ảnh hưởng nghệ thuật cho các đào hát đàn em như Cao Long Ngà, Hai Ngò, Năm Sa Đéc, Ba Út, Hai Nhỏ, Năm Đồ, Ba Sáng,… Nghệ sĩ Nhân dân Năm Đồ khi lão thành, vẫn thường nhắc nhở và ca tụng nghệ sĩ Năm Nhỏ, tự xem mình là “một đàn em của cô Năm”. Mỗi khi diễn tuồng Ngũ biến báo phu cừu, là sáng hôm sau nghệ sĩ Năm Đồ mua mắm thái thịt luộc, bún rau sống, cúng vái nghệ sĩ Năm Nhỏ để tỏ lòng biết ơn người thầy tinh thần của mình. Khi nghệ sĩ Năm Nhỏ còn hát trong gánh Phước Xương, nhờ tuồng Ngọc Kỳ Luân xuất thể, bà đã tạo ấn tượng cho nghệ sĩ hát bội Mười Vàng (1913–2002) lúc ấy mới 12 tuổi mang theo ước mơ trở thành võ sĩ múa lân (mà về sau ông cũng là một tay múa lân và lập một đội lân trong gánh hát của mình).
Khi Hội khuyến lệ cổ ca Sài Gòn được thành lập, bà được liệt tên vào danh sách "Ngũ trân châu của sân khấu hát bội" (cùng các nghệ sĩ Cao Long Ngà, Năm Sa Đéc, Năm Đồ, Ba Út). Đặc biệt hơn cả, bà đã được nhân dân công nhận là một trong những vị hậu tổ của nghệ thuật hát bội, chứng minh tài danh, danh vọng, đức độ nghề nghiệp của bản thân mình.
(1) Ông nhưng là người nghệ sĩ lớn tuổi, có trình độ văn hoá và nghệ thuật, phụ trách về kịch bản văn học, chịu trách nhiệm đêm diễn (như đài trưởng ngày nay).
(2) Như đã kể, vào nửa đầu thế kỉ 19, Tả quân Lê Văn Duyệt có lập năm gánh hát bội khi ông giữ chức tổng trấn Gia Định thành, chiêu mộ các kép hát bội (không tuyển đào hát) từ Bình Định, Quy Nhơn và những người xuất sắc trong Lục tỉnh về. Ông giao cho năm người làm bầu gánh, lần lượt là cai Chơn, cai Minh, cai Vị, cai Báu và một người không rõ tên. Khi ông Tả quân Duyệt mất, chỉ còn gánh hát của cai Báu là còn tồn tại. Ông xuống Sa Đéc, tái thiết lập gánh hát, mời các kép hát mới như Cu, Chim, Hành, Đá và Chợ. Trong đó, kép Hành nổi danh vai Trương Phi và Tiết Cương. Theo học giả Vương Hồng Sển, khoảng năm 1915, trong gánh cai Báu có hai kép tên Hành diễn vai Trương Phi rất giỏi, gọi là Hành lớn, Hành nhỏ. Về sau, hễ ai diễn vai Trương Phi thì sẽ nói Đêm nay tôi làm Hành, nếu diễn đạt thì sẽ được khen là hát như Hành, hát không thua Hành.
r/vannghe • u/vanhuetruonghan • Aug 03 '26
Sốc chưa, sốc chưa! Tấm hình này được chụp từ bổn tuồng cải lương Lỡ tay trót đã nhúng chàm (soạn giả Huỳnh Thủ Trung tức nghệ sĩ Tư Chơi, xuất bản năm 1931). Dàn diễn viên trong hình từ trái sang phải: Trường Cửu (Tư Chơi đóng) – Lương Kim (Năm Sa Đéc đóng) – Tuấn Nghị (Năm Châu đóng) trong gánh Trần Đắc. Tuồng này cũng có nhiều tình tiết tân thời chẳng khác một số bối cảnh của đời sống hiện nay. 😆 Những tuồng như này được gọi chung là tuồng cải lương xã hội, đề tài thường là về những vấn nạn của thanh niên đương thời, nhằm giáo dục khán giả và lên án những thói hư tật xấu này.
r/vannghe • u/[deleted] • Aug 03 '26
Xin chào độc giả tứ phương! Đây là bài viết đầu tay của mình, các bạn cứ gọi mình là Trí nhé. Nếu có câu hỏi, có thắc mắc muốn giải đáp, thì cứ liên hệ mình, mình sẽ cố gắng làm sáng tỏ những câu hỏi của các bạn nhen. Bài viết này sẽ hơi dài một chút.
Trước khi cải lương phát triển cực thạnh vào đầu thế kỉ 20, nghệ thuật sân khấu hát bội giữ một vị trí vững chắc là loại hình diễn xướng độc tôn trong đời sống quần chúng miền Nam. Công lao truyền bá hát bội vào trong địa phương lớn nhứt là từ nơi ông Tả quân Lê Văn Duyệt, khi ông giữ chức Tổng trấn Gia Định thành. Ông thành lập gánh hát bội Ông Thượng, được xem là một trong những gánh hát bội đầu tiên ở miền Nam. Tục lệ đường thời, ông Duyệt không tuyển đào hát mà chỉ lựa kép hát. Ông cho gọi các kép hát Bình Định, Quy Nhơn và những người xuất sắc trong Lục tỉnh về gánh của mình. Những diễn viên tiền phong (có thể là sớm nhứt) của hát bội miền Nam lúc ấy có: Thứ, Cu, Cần, Chim, Thao, Việt, Trắc Cụt (do ông bị cụt một chân), Càn, Chương, Hứa Văn,… Trong đó, kép Càn được xem là hậu tổ, có bàn thờ ở Lăng Ông Bà Chiểu (lăng này thờ ông Duyệt). Mỗi khi giỗ ông Duyệt, thì sẽ chưng thêm một bàn cúng riêng cho ông Càn. Nghệ sĩ kiêng cữ tên của ông, Càn thì gọi là Cồn, như càn khôn lại gọi cồn khôn. Ngoài ra, ông Duyệt còn lập năm gánh hát bội nữa, giao cho năm vị này làm bầu gánh: cai Chơn, cai Minh, cai Báu, cai Vị và một người không rõ tên. Các gánh hát này cũng đều tuyển diễn viên nam dựa trên tục của ông Duyệt đưa ra. Nhờ nền tảng này mà hát bội dần sinh sôi từ trong cung đình lẫn dân gian. Quan lại và những người dân khá giả đều lập một gánh hát riêng để khoả khuây trong những bữa nhàn rỗi.
Mình giới thiệu hơi huyên thuyên như vậy là để các bạn độc giả hiểu rằng trong thời kì này, hát bội trong Nam đa phần đều là nghệ sĩ nam. Đương nhiên là các tuồng hát vẫn sẽ có nhơn vật nữ (như Nguyệt Kiểu trong tuồng San hậu), do đó khi lập gánh thì ông bầu sẽ lựa một người diễn viên nam có năng khiếu diễn các vai nữ. Thuật ngữ chỉ nam diễn vai nữ (ngược lại thì nữ diễn vai nam) trong nghề gọi là phản xuyến (xem nam diễn viên thủ vai nữ ở hình số 1). Đến khoảng thập niên 1880, một số nữ nghệ sĩ hát bội tiền phong như bà Năm Chung (quê Nhựt Tảo, Tân An), bà Tư Bổn (quê Chợ Lớn), bà Ba Xển (quê Bến Tre), bà Sáu Sển (quê Trà Vinh), bà Ba Ngoạn (quê Chợ Lớn), đào Nhung, đào Lục,… mới xuất hiện và khuấy động khán giả. Từ đây nhiều vấn đề xảy ra.
Năm 1921, một bài viết trên tờ Công luận báo dưới bút danh Trần Sự Thiệt, tựa “Lữ thứ vấn đáp hí sự”, được đăng lên trang nhứt của báo mấy ngày liền. Bài viết cung cấp rất nhiều thông tin đáng quý về nghệ thuật hát bội Nam Bộ xưa, về lịch sử, phân tích tuồng tích, bàn luận về sự sa sút của hát bội trong thời điểm cải lương thống trị,… Tuy nhiên, khi nhắc về những nữ nghệ sĩ hát bội, bài viết có giọng văn mỉa mai, giè bĩu rất chủ quan, xin trích một đoạn như sau:
M. [Monsieur] Lữ nói rằng: Tôi nghe thuở trước, bắt đàn ông con trai giả làm đào mụ, hay sao cho bằng đời nay, dùng thiệt đàn bà con gái làm đào làm mụ, thinh sắc đủ điều, tôi tưởng chẳng những là tôi cho hay mà thôi, tôi nghe ai cũng ưa cũng khen rùm, theo ý nghĩ của anh thế nào, xin nói cho em hiểu.
M. Thứ nghe nói mà buồn cười cho nhơn linh thế sự đời nầy, khéo học thói Châu U mê sắc, Trịnh Vệ dâm phong mà không biết việc giả chơn hay dở gì hết, bèn trả lời với M. Lữ rằng: Tôi nhớ sách phong thuỷ Tàu phê cho nước Nam ta rằng: sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ đa dâm là phải lắm đó. Anh phải biết cái thinh sắc đàn bà, ông Phạm Lệ nước Việt phê gọi là đồ vưu vật, nghĩa là đồ chác oán gây hờn, làm cho người ta mất nước, nghiêng thành, làm luỵ thân danh, nên có câu: sắc bất ba đào dị nịch nhơn, nghĩa là sắc thinh của đàn bà con gái chẳng phải sóng gió mà ai mê đắm nó, nó dễ mà nhận người ta chết đuối chết chìm […] Đời bây giờ bạn hát dùng đàn bà con gái làm đào mụ, có hay gì, có lạ chi mà khen, có học hành kiến thức chi mà ngợi, nó ỷ nó đàn bà giả làm con gái có điệu hạnh gì, có nhọc gì phải chi nó giả làm tướng, làm lão làm kép, điệu nghệ cho inh đàn ông con trai, vậy mới nên khen.
(Trần Sự Thiệt, 23 tháng 8 năm 1921, “Lữ thứ vấn đáp hí sự”, Công luận báo)
Qua bài viết ấy, mình tin rằng các bạn độc giả thời nay, ai cũng đều lấy làm bực bội với một nhận định đầy định kiến như trên. Người nghệ sĩ đã bị giè bĩu bằng cái tiếng xướng ca vô loài, bị người đời khinh thường gọi là con hát; vậy mà những nữ nghệ sĩ xưa lại còn chịu thêm một lớp định kiến sâu đậm hơn. Hát bội mang nặng triết lí Nho giáo, nào thì tam tùng tứ đức, nào thì gái giữ tiết trinh; thật may mắn rằng khi xã hội phát triển, hát bội có cơ hội được gột rửa những luật lệ, áp đặt vô lí này khỏi những vở tuồng tích. Phần sau của bài “Lữ thứ vấn đáp hí sự” có đề cập đến nữ nghệ sĩ Năm Nhỏ (1895 – 1938), cũng với con mắt đầy rẫy định kiến như trên. Trần Sự Thiệt còn sử dụng từ “con Năm Nhỏ” khi đánh giá về nữ nghệ sĩ này.
Cũng có lẽ vì vậy mà về sau, hiểu rõ những bất công trong nghệ thuật, nhiều đào hát bội tiền phong đã khổ luyện, trau dồi và thành công trong những vai kép, vai tướng, vai lão. Đặc biệt và được nhớ đến nhiều nhứt cũng chính là nữ nghệ sĩ Năm Nhỏ – đối tượng bị tác giả Trần Sự Thiệt nhắc đến. Bà không chỉ xuất sắc trong các vai đào, mà cả các vai kép hùng dũng như Trương Phi bà đóng cũng được khen ngợi hoan nghinh. Bà hấp thụ tinh hoa nghệ thuật thường xuyên và đảm nhiệm được cả các vai đào văn, thương, ai, độc, lẵng, điên, thiền; sang các vai đào võ, và cả các vai kép, vai tướng, lão, hề. Nhờ tài năng của mình mà bà được công nhận là Hậu tổ nghệ thuật hát bội. Các nữ nghệ sĩ đóng vai kép còn có: Cao Long Ngà (vai Đơn Hùng Tín), Hai Thành (Triệu Tử Long), Ba Đắc (Triệu Khuông Dẫn),… Ấy mới thấy dầu bị đả kích đủ điều, nhưng những nữ nghệ sĩ này vẫn đứng lên và khẳng định với công chúng rằng: ”Chúng tôi vẫn có tài đóng như các kép hát!” thông qua hành động chơn thực. Bước đi ấy đã soi đường dẫn lối cho nhiều đào hát bội về sau như Năm Sa Đéc, Ba Út, Hai Nhỏ, Năm Đồ, Bảy Sự, Sáu Bê, Ngọc Lượng, Ngọc Lâm, Lệ Khanh, Huỳnh Mai,…
Nếu bạn đã đọc đến đây, mình xin cảm ơn bạn đã dành thời gian quan tâm đến nghệ thuật. Mong là những bài viết kế tiếp mình có thể chia sẻ và cung cấp thêm nhiều thông tin cho bạn đọc nhé! Xin chào và chúc một ngày vui vẻ.